Trao đổi thông tin

TT 65-2015_CM2410 kem theo st1\:*{behavior:url(#ieooui) }

Trao đổi thông tin

  1. Khi soát xét thông tin tài chính giữa niên độ nếu nhận thấy vấn đề khiến kiểm toán viên cho rằng cần phải điều chỉnh trọng yếu thông tin tài chính giữa niên độ để cho thông tin tài chính giữa niên độ này được lập và trình bày, trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng, thì kiểm toán viên phải thông báo vấn đề này ngay khi có thể với cấp quản lý phù hợp.
  2. Theo xét đoán của kiểm toán viên, khi Ban Giám đốc đơn vị không có phản hồi thích hợp trong thời gian hợp lý, kiểm toán viên phải thông báo bằng lời hoặc văn bản cho Ban quản trị đơn vị ngay khi có thể. Quyết định của kiểm toán viên về việc thông báo bằng lời hay bằng văn bản chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như bản chất, tính nhạy cảm và tầm quan trọng của vấn đề cần thông báo cũng như thời điểm thông báo. Nếu thông tin được thông báo bằng lời, kiểm toán viên phải ghi lại việc thông báo đó.
  3. Theo xét đoán của kiểm toán viên, khi Ban quản trị đơn vị không có phản hồi thích hợp trong thời gian hợp lý, kiểm toán viên phải xem xét:
    • Liệu có phải đưa ra kết luận không phải là kết luận chấp nhận toàn phần hay không; hoặc
    • Khả năng rút khỏi hợp đồng soát xét;
    • Khả năng rút khỏi hợp đồng kiểm toán báo cáo tài chính năm.
  4. Khi soát xét thông tin tài chính giữa niên độ, nếu nhận thấy vấn đề khiến kiểm toán viên cho rằng có gian lận hoặc đơn vị được soát xét có vi phạm pháp luật và các quy định có liên quan, kiểm toán viên phải thông báo vấn đề này ngay khi có thể với cấp quản lý phù hợp. Việc xác định cấp quản lý nào là phù hợp phụ thuộc vào khả năng có sự thông đồng hoặc tham gia của thành viên cấp quản lý đối với gian lận. Kiểm toán viên cũng phải xem xét sự cần thiết phải báo cáo các vấn đề đó với Ban quản trị và xem xét ảnh hưởng đối với cuộc soát xét.
  5. Kiểm toán viên phải thông báo với Ban quản trị đơn vị các vấn đề mà họ quan tâm phát sinh từ cuộc soát xét thông tin tài chính giữa niên độ. Nếu sau khi thực hiện soát xét thông tin tài chính giữa niên độ, kiểm toán viên biết được các vấn đề mà theo ý kiến của kiểm toán viên là quan trọng và liên quan đến việc Ban quản trị đơn vị giám sát quy trình lập, trình bày và thuyết minh báo cáo tài chính thì kiểm toán viên phải thông báo các vấn đề này với Ban quản trị đơn vị.

Báo cáo nội dung, phạm vi và kết quả soát xét thông tin tài chính giữa niên độ

vinasc-city-23

  1. Kiểm toán viên phải phát hành báo cáo soát xét bằng văn bản, gồm:
    • Số hiệu và tiêu đề thích hợp;
    • Người nhận báo cáo soát xét, tùy theo yêu cầu của hợp đồng soát xét;
    • Xác định thông tin tài chính giữa niên độ đã được soát xét, bao gồm tên của từng báo cáo trong bộ báo cáo tài chính đầy đủ hoặc tóm lược, ngày lập báo cáo và kỳ báo cáo liên quan của thông tin tài chính giữa niên độ;
    • Nếu thông tin tài chính giữa niên độ bao gồm một bộ báo cáo tài chính đầy đủ cho mục đích chung được lập và trình bày theo khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được thiết kế để đạt được sự trình bày hợp lý, thì báo cáo soát xét phải trình bày rõ rằng Ban Giám đốc đơn vị chịu trách nhiệm về việc lập và trình bày trung thực và hợp lý thông tin tài chính giữa niên độ phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng;
    • Trong các trường hợp khác, báo cáo soát xét phải trình bày rõ rằng Ban Giám đốc đơn vị chịu trách nhiệm về việc lập và trình bày thông tin tài chính giữa niên độ phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng;
    • Một đoạn trình bày về việc kiểm toán viên chịu trách nhiệm đưa ra kết luận về thông tin tài chính giữa niên độ dựa trên kết quả soát xét;
    • Một đoạn trình bày về công việc soát xét thông tin tài chính giữa niên độ được thực hiện theo Chuẩn mực Việt Nam về hợp đồng dịch vụ soát xét số 2410 – Soát xét thông tin tài chính giữa niên độ do kiểm toán viên độc lập của đơn vị thực hiện, và công việc soát xét này bao gồm thực hiện phỏng vấn, chủ yếu là phỏng vấn những người chịu trách nhiệm về các vấn đề tài chính, kế toán, và thực hiện các thủ tục phân tích và thủ tục soát xét khác;
    • Một đoạn trình bày về phạm vi của cuộc soát xét sẽ hẹp hơn đáng kể so với phạm vi cuộc kiểm toán báo cáo tài chính được thực hiện theo các chuẩn mực kiểm toán Việt Nam nên không thể cho phép kiểm toán viên đạt được sự đảm bảo rằng kiểm toán viên sẽ biết được toàn bộ các vấn đề trọng yếu có thể được phát hiện như trong một cuộc kiểm toán và do đó kiểm toán viên không đưa ra ý kiến kiểm toán;
    • Nếu thông tin tài chính giữa niên độ bao gồm một bộ báo cáo tài chính đầy đủ cho mục đích chung được lập và trình bày theo khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được thiết kế để đạt được sự trình bày hợp lý, thì báo cáo soát xét sẽ bao gồm kết luận về việc liệu kiểm toán viên có nhận thấy vấn đề gì khiến kiểm toán viên cho rằng thông tin tài chính giữa niên độ không phản ánh trung thực và hợp lý, trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng hay không (nếu khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng được đề cập đến trong kết luận của kiểm toán viên không phải là các chuẩn mực kế toán Việt Nam, chế độ kế toán (doanh nghiệp) Việt Nam và các quy định có liên quan đến việc lập và trình bày báo cáo tài chính của Việt Nam hoặc chuẩn mực lập và trình bày báo cáo tài chính quốc tế do Uỷ ban Chuẩn mực Kế toán Quốc tế ban hành hay các chuẩn mực kế toán công quốc tế do Uỷ ban Chuẩn mực Kế toán Công Quốc tế ban hành, kết luận của kiểm toán viên phải chỉ rõ nước ban hành ra khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính đó);
    • Trong các trường hợp khác, kết luận về việc liệu kiểm toán viên có nhận thấy vấn đề gì khiến kiểm toán viên cho rằng thông tin tài chính giữa niên độ không được lập và trình bày, trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng hay không (nếu khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng được đề cập đến trong kết luận của kiểm toán viên không phải là các chuẩn mực kế toán Việt Nam, chế độ kế toán (doanh nghiệp) Việt Nam và các quy định có liên quan đến việc lập và trình bày báo cáo tài chính của Việt Nam hoặc chuẩn mực lập và trình bày báo cáo tài chính quốc tế do Uỷ ban Chuẩn mực Kế toán Quốc tế ban hành hay các chuẩn mực kế toán công quốc tế do Uỷ ban Chuẩn mực Kế toán Công Quốc tế ban hành, kết luận của kiểm toán viên phải chỉ rõ nước ban hành ra khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính đó);
    • Ngày lập báo cáo;
    • Tên và địa chỉ doanh nghiệp kiểm toán;

(m) Chữ ký, họ và tên kiểm toán viên và đóng dấu: Thực hiện theo quy định và hướng dẫn về chữ ký, họ và tên của kiểm toán viên và đóng dấu tại đoạn 86(l) và A132 của Chuẩn mực Việt Nam về hợp đồng dịch vụ soát xét số 2400 – Dịch vụ soát xét báo cáo tài chính quá khứ.

Các mẫu báo cáo soát xét được hướng dẫn tại Phụ lục 04 Chuẩn mực này.

  1. Pháp luật và các quy định có liên quan có thể cho phép doanh nghiệp kiểm toán sửa đổi ngôn từ ở phần kết luận của kiểm toán viên trong báo cáo soát xét khác với quy định tại đoạn 43(i) hoặc 43(j) nhưng trách nhiệm của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán vẫn phải tuân thủ theo quy định của Chuẩn mực này.