Tính độc lập của kiểm toán viên

08. ISA 260 v\:* {behavior:url(#default#VML);} o\:* {behavior:url(#default#VML);} w\:* {behavior:url(#default#VML);} .shape {behavior:url(#default#VML);}

Tính độc lập của kiểm toán viên (Tham chiếu: Đoạn 17)

  • Kiểm toán viên phải tuân thủ các quy định về đạo đức nghề nghiệp có liên quan, bao gồm tính độc lập liên quan đến kiểm toán báo cáo tài chính.[8]
  • Kiểm toán viên cần trao đổi với Ban quản trị đơn vị được kiểm toán về các mối quan hệ, vấn đề liên quan và các biện pháp bảo vệ. Việc trao đổi này có thể thay đổi theo từng trường hợp nhưng thường đề cập tới các nội dung sau:
  • Nguy cơ đe doạ tính độc lập của kiểm toán viên có thể phân loại thành: Nguy cơ do tư lợi, nguy cơ tự kiểm tra, nguy cơ về sự bào chữa, nguy cơ từ sự quen thuộc và nguy cơ bị đe dọa;
  • Các biện pháp bảo vệ theo yêu cầu nghề nghiệp, pháp luật và các quy định có liên quan; biện pháp bảo vệ trong đơn vị được kiểm toán và biện pháp bảo vệ trong các hệ thống và thủ tục của doanh nghiệp kiểm toán.

Nội dung trao đổi theo quy định ở đoạn 17 (a) bao gồm cả sự vô ý vi phạm các quy định về đạo đức nghề nghiệp có liên quan đến tính độc lập của kiểm toán viên và các biện pháp khắc phục đã áp dụng hoặc kiến nghị.

  • Yêu cầu trao đổi liên quan đến tính độc lập của kiểm toán viên áp dụng trong trường hợp kiểm toán tổ chức niêm yết cũng có thể áp dụng đối với một số đơn vị khác, đặc biệt là các đơn vị có lợi ích công chúng, vì xét trên khía cạnh hoạt động kinh doanh, quy mô và vị thế doanh nghiệp, các đơn vị này có số lượng đông đảo các đối tượng liên quan thuộc mọi lĩnh vực. Ví dụ về các đơn vị không phải là tổ chức niêm yết nhưng cần trao đổi về tính độc lập của kiểm toán viên là các đơn vị trong lĩnh vực công, tổ chức tín dụng, công ty bảo hiểm, quỹ lương hưu. Mặt khác, trong một số trường hợp, việc trao đổi với Ban quản trị về tính độc lập của kiểm toán viên là không cần thiết, như khi tất cả các thành viên Ban quản trị đơn vị đồng thời là thành viên Ban Giám đốc và đã nắm được thông tin thông qua việc điều hành, quản lý của họ. Trường hợp này đặc biệt phổ biến khi đơn vị được kiểm toán do chính chủ sở hữu quản lý, và các doanh nghiệp kiểm toán hoặc công ty mạng lưới không có quan hệ gì khác với đơn vị ngoài việc kiểm toán báo cáo tài chính.

Các vn đề khác cần trao đổi (Tham chiếu: Đoạn 3)

  • Ban quản trị có trách nhiệm giám sát hoạt động của Ban Giám đốc đơn vị để đảm bảo đơn vị được kiểm toán đã thiết kế, thực hiện và duy trì kiểm soát nội bộ phù hợp nhằm đạt được sự tin cậy của báo cáo tài chính, hiệu quả và hiệu suất của các hoạt động và sự tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan của đơn vị.
  • Kiểm toán viên có thể nhận biết các vấn đề khác không liên quan đến việc giám sát quá trình lập và trình bày báo cáo tài chính của đơn vị, nhưng lại trở nên quan trọng khi xem xét trách nhiệm của Ban quản trị đơn vị trong việc giám sát thực hiện chiến lược hay nghĩa vụ giải trình của đơn vị. Đó có thể là các vấn đề nghiêm trọng liên quan đến bộ máy và quy trình quản trị doanh nghiệp, các quyết định và hành động quan trọng của Ban Giám đốc mà chưa được sự cho phép phù hợp.
  • Khi quyết định có nên trao đổi các vấn đề khác với Ban quản trị đơn vị hay không, kiểm toán viên có thể cần thảo luận với cấp quản lý phù hợp của đơn vị về vấn đề cần trao đổi, trừ khi kiểm toán viên nhận thấy việc thảo luận này là không cần thiết.
  • Khi trao đổi các vấn đề khác, kiểm toán viên cần lưu ý với Ban quản trị đơn vị là:
  • Việc phát hiện và trao đổi các vấn đề này là phần bổ sung cho mục đích chính của cuộc kiểm toán là đưa ra ý kiến về báo cáo tài chính;
  • Kiểm toán viên không thực hiện thủ tục kiểm toán nào đối với vấn đề này ngoài các thủ tục cần thiết để hình thành kiến về báo cáo tài chính;
  • Kiểm toán viên không thực hiện thủ tục kiểm toán nào để xác định các vấn đề này có tồn tại hay không.

Quá trình trao đổi

Thiết lập quá trình trao đổi (Tham chiếu: Đoạn 18)

  • Để thiết lập mối quan hệ trao đổi 2 chiều hiệu quả, kiểm toán viên cần trao đổi cụ thể về trách nhiệm của kiểm toán viên, phạm vi, lịch trình kiểm toán theo kế hoạch và nội dung tổng quát các vấn đề cần trao đổi.
  • Để tăng cường hiệu quả trao đổi 2 chiều, kiểm toán viên cần thảo luận các vấn đề sau:
  • Mục đích của việc trao đổi: Khi xác định rõ mục đích trao đổi, kiểm toán viên và Ban quản trị đơn vị sẽ hiểu rõ hơn về các vấn đề liên quan và các hành động dự kiến phát sinh từ quá trình trao đổi;
  • Hình thức trao đổi;
  • Thành viên nhóm kiểm toán và thành viên Ban quản trị đơn vị tham gia trao đổi về các vấn đề cụ thể;
  • Mong muốn của kiểm toán viên là thông tin được trao đổi 2 chiều và Ban quản trị sẽ trao đổi với kiểm toán viên các vấn đề họ cho là liên quan đến cuộc kiểm toán, như các quyết định chiến lược có thể ảnh hưởng đáng kể đến nội dung, lịch trình và phạm vi các thủ tục kiểm toán; sự nghi ngờ hoặc phát hiện về gian lận và xem xét tính chính trực, năng lực của thành viên Ban Giám đốc;
  • Quy trình xử lý và báo cáo lại về các vấn đề mà kiểm toán viên đã trao đổi;
  • Quy trình xử lý và báo cáo lại về các vấn đề mà Ban quản trị đơn vị đã trao đổi.
    • Quy trình trao đổi có thể thay đổi cho phù hợp với quy mô và bộ máy quản trị của đơn vị, cách thức làm việc của Ban quản trị và đánh giá của kiểm toán viên về tầm quan trọng của các vấn đề được trao đổi. Khó khăn trong việc hình thành quan hệ trao đổi 2 chiều một cách hiệu quả có thể cho thấy quá trình trao đổi giữa kiểm toán viên và Ban quản trị đơn vị là không phù hợp với mục đích của cuộc kiểm toán (xem thêm đoạn A44 Chuẩn mực này).

Lưu ý khi kiểm toán các đơn vị nhỏ

  • Khi kiểm toán các đơn vị nhỏ, kiểm toán viên có thể trao đổi với Ban quản trị theo cách thức đơn giản hơn so với các tổ chức niêm yết hoặc công ty có quy mô lớn.

Trao đổi với Ban Giám đốc

accounting services company in vietnam

  • Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên sẽ trao đổi nhiều vấn đề với Ban Giám đốc, trong đó có các vấn đề cần trao đổi với Ban quản trị theo quy định tại Chuẩn mực này. Những cuộc thảo luận như vậy nhằm khẳng định rõ trách nhiệm của Ban Giám đốc trong việc quản lý và điều hành hoạt động của đơn vị, đặc biệt là trách nhiệm lập và trình bày báo cáo tài chính.
  • Trước khi trao đổi với Ban quản trị đơn vị, kiểm toán viên có thể thảo luận các vấn đề liên quan với Ban Giám đốc, trừ khi kiểm toán viên nhận thấy việc trao đổi trước như vậy là không phù hợp, ví dụ thảo luận với Ban Giám đốc về năng lực và tính chính trực của chính các thành viên Ban Giám đốc. Ngoài việc nhằm khẳng định rõ trách nhiệm điều hành của Ban Giám đốc, các cuộc thảo luận này còn nhằm làm rõ một số vấn đề và sự kiện, và tạo điều kiện cho Ban Giám đốc có cơ hội cung cấp thêm thông tin và giải trình liên quan. Tương tự, nếu đơn vị có bộ phận kiểm toán nội bộ, kiểm toán viên có thể thảo luận các vấn đề liên quan với bộ phận kiểm toán nội bộ trước khi trao đổi với Ban quản trị đơn vị.

Trao đổi với bên thứ ba

  • Ban quản trị đơn vị có thể muốn cung cấp cho bên thứ ba, như ngân hàng, cơ quan chức năng, văn bản trao đổi của kiểm toán viên. Trong một số trường hợp, việc cung cấp tài liệu cho bên thứ ba là bất hợp pháp hoặc không phù hợp. Khi văn bản trao đổi do kiểm toán viên cung cấp cho Ban quản trị lại được cung cấp cho bên thứ ba thì bên thứ ba cần được thông báo rằng văn bản này không được lập cho mục đích sử dụng của bên thứ ba, bằng cách ghi rõ trong văn bản trao đổi với Ban quản trị đơn vị các vấn đề sau:
  • Văn bản trao đổi được lập chỉ cho mục đích sử dụng của Ban quản trị đơn vị, và nếu cần thiết, có thể cung cấp cho Ban Giám đốc tập đoàn và kiểm toán viên tập đoàn, và không phục vụ cho mục đích của bên thứ ba;
  • Kiểm toán viên không chịu trách nhiệm gì với bên thứ ba;
  • Hạn chế về công bố hoặc cung cấp văn bản trao đổi cho bên thứ ba.
    • Tại một số nước, pháp luật và các quy định có thể yêu cầu kiểm toán viên phải:
  • Thông báo cho cơ quan quản lý nhà nước một số vấn đề đã trao đổi với Ban quản trị đơn vị. Ví dụ, tại một số nước, kiểm toán viên có nhiệm vụ thông báo với cơ quan có thẩm quyền về các sai sót của đơn vị được kiểm toán trong trường hợp Ban Giám đốc và Ban quản trị đơn vị không thực hiện các biện pháp khắc phục;
  • Nộp bản sao một số báo cáo kiểm toán viên lập cho Ban quản trị đơn vị cho các cơ quan có thẩm quyền, tổ chức tài trợ, hoặc các tổ chức khác, như cơ quan nhà nước trung ương nếu liên quan đến đơn vị có lợi ích công chúng; hoặc
  • Công bố báo cáo do kiểm toán viên lập cho Ban quản trị đơn vị sử dụng ra công chúng.
    • Trừ khi pháp luật và các quy định có liên quan yêu cầu cung cấp văn bản trao đổi của kiểm toán viên với Ban quản trị đơn vị cho bên thứ ba, kiểm toán viên có thể phải được sự đồng ý của Ban quản trị đơn vị trước khi cung cấp văn bản đó.

Hình thức trao đổi (Tham chiếu: Đoạn 19-20)

  • Ngoài trao đổi bằng văn bản, trao đổi bằng lời cũng có thể là hình thức trao đổi hiệu quả. Kiểm toán viên có thể trao đổi bằng văn bản hoặc bằng lời các vấn đề khác ngoài các vấn đề quy định tại đoạn 19-20 Chuẩn mực này. Trao đổi bằng văn bản có thể dưới dạng công văn, thư từ do kiểm toán viên gửi cho Ban quản trị đơn vị.
  • Hình thức trao đổi (bằng lời hoặc văn bản, mức độ chi tiết hoặc tóm tắt, trao đổi có chuẩn bị kỹ lưỡng hay trao đổi đơn giản) chịu ảnh hưởng bởi tầm quan trọng của vấn đề cần trao đổi. Ngoài ra, hình thức trao đổi có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố sau:
  • Vấn đề trao đổi đã được giải quyết thoả đáng hay chưa;
  • Ban Giám đốc đã trao đổi với Ban quản trị hay chưa;
  • Quy mô, cơ cấu hoạt động, môi trường kiểm soát, cơ cấu tổ chức theo quy định của pháp luật và của đơn vị được kiểm toán;
  • Trong trường hợp thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính vì mục đích đặc biệt, kiểm toán viên có đồng thời thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính vì mục đích chung hay không;
  • Quy định của pháp luật. Tại mộ số nước, văn bản trao đổi với Ban quản trị đơn vị phải theo đúng mẫu do pháp luật nước sở tại quy định;
  • Mong muốn của Ban quản trị đơn vị có các cuộc gặp hoặc trao đổi định kỳ với kiểm toán viên;
  • Số lượng các cuộc gặp và trao đổi giữa kiểm toán viên và Ban quản trị đơn vị;
  • Có sự thay đổi đáng kể về thành viên Ban quản trị đơn vị.
    • Khi thảo luận các vấn đề quan trọng với một thành viên trong Ban quản trị đơn vị, như Chủ tịch Ủy ban kiểm toán, kiểm toán viên có thể cần tóm tắt lại vấn đề đó trong các cuộc trao đổi sau với toàn bộ thành viên Ban quản trị để họ nắm được đầy đủ thông tin.

Thời điểm trao đổi (Tham chiếu: Đoạn 21)