Thủ tục đánh giá rủi ro và các hoạt động liên quan

11. ISA 315 v\:* {behavior:url(#default#VML);} o\:* {behavior:url(#default#VML);} w\:* {behavior:url(#default#VML);} .shape {behavior:url(#default#VML);}

Thủ tục đánh giá rủi ro và các hoạt động liên quan

  1. Kiểm toán viên phải thực hiện thủ tục đánh giá rủi ro để có cơ sở xác định và đánh giá rủi ro có sai sót trọng yếu ở cấp độ báo cáo tài chính và cấp độ cơ sở dẫn liệu. Tuy nhiên, nếu chỉ thực hiện thủ tục đánh giá rủi ro thì chưa cung cấp đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp để làm cơ sở đưa ra ý kiến kiểm toán (Tham chiếu: Đoạn A1-A5).
  2. Thủ tục đánh giá rủi ro phải bao gồm các bước sau:
    • Phỏng vấn Ban Giám đốc và các cá nhân khác trong đơn vị mà theo xét đoán của kiểm toán viên có khả năng cung cấp thông tin hỗ trợ cho việc xác định rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn (Tham chiếu: Đoạn A6);
    • Thực hiện thủ tục phân tích (Tham chiếu: Đoạn A7-A10);
    • Quan sát và điều tra (Tham chiếu: Đoạn A11).
  3. Kiểm toán viên phải xem xét liệu các thông tin thu thập được từ thủ tục đánh giá chấp nhận hoặc duy trì khách hàng có phù hợp để xác định rủi ro có sai sót trọng yếu hay không.
  4. Trong trường hợp chủ phần hùn kiểm toán đã cung cấp các dịch vụ khác cho đơn vị được kiểm toán thì chủ phần hùn đó phải xem xét liệu thông tin đã thu thập được trước đây có phù hợp để xác định rủi ro có sai sót trọng yếu hay không.
  5. Nếu kiểm toán viên dự định sử dụng các thông tin thu thập được từ kinh nghiệm làm việc với đơn vị được kiểm toán trong các năm trước hoặc từ các thủ tục kiểm toán được thực hiện trong các cuộc kiểm toán trước, kiểm toán viên phải xác định liệu có các thay đổi diễn ra trong thời gian từ cuộc kiểm toán trước đến cuộc kiểm toán hiện tại có thể ảnh hưởng tới sự phù hợp của các thông tin đó đối với cuộc kiểm toán hiện tại hay không (Tham chiếu: Đoạn A12-A13).
  6. Chủ phần hùn kiểm toán và các thành viên chính trong nhóm kiểm toán phải thảo luận về khả năng báo cáo tài chính của đơn vị dễ xảy ra sai sót trọng yếu và việc áp dụng khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính cho điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của đơn vị. Chủ phần hùn kiểm toán phải quyết định những vấn đề cần thông báo cho các thành viên nhóm kiểm toán không tham gia thảo luận (Tham chiếu: Đoạn A14-A16).

Những hiểu biết cần có về đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị, trong đó có kiểm soát nội bộ

vinasc-city-48

Đơn vị được kiểm toán và môi trường của đơn vị

  1. Kiểm toán viên phải tìm hiểu các thông tin sau:
    • Ngành nghề kinh doanh, các quy định pháp lý và các yếu tố bên ngoài khác, bao gồm cả khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng (Tham chiếu: Đoạn A17-A22);
    • Đặc điểm của đơn vị, bao gồm:
    • Lĩnh vực hoạt động;
    • Loại hình sở hữu và bộ máy quản trị;
    • Các hình thức đầu tư mà đơn vị đang và dự kiến tham gia, kể cả đầu tư vào các đơn vị có mục đích đặc biệt; và
    • Cơ cấu hoạt động và cơ cấu nguồn vốn của đơn vị.

Các thông tin này giúp kiểm toán viên hiểu được những nhóm giao dịch, số dư tài khoản và các thông tin thuyết minh cần được trình bày trên báo cáo tài chính của đơn vị (Tham chiếu: Đoạn A23-A27).

  • Các chính sách kế toán mà đơn vị lựa chọn áp dụng và lý do thay đổi (nếu có). Kiểm toán viên phải đánh giá các chính sách kế toán mà đơn vị đang áp dụng có phù hợp với lĩnh vực hoạt động kinh doanh của đơn vị, có nhất quán với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính và các chính sách kế toán mà các đơn vị trong cùng lĩnh vực hoạt động đang áp dụng hay không (Tham chiếu: Đoạn A28).
  • Mục tiêu, chiến lược của đơn vị và những rủi ro kinh doanh có liên quan mà có thể dẫn đến rủi ro có sai sót trọng yếu (Tham chiếu: Đoạn A29-A35);
  • Việc đo lường và đánh giá kết quả hoạt động của đơn vị (Tham chiếu: Đoạn A36-A41).

Kiểm soát nội bộ của đơn vị được kiểm toán

  1. Kiểm toán viên phải tìm hiểu các thông tin về kiểm soát nội bộ của đơn vị có liên quan đến cuộc kiểm toán. Mặc dù hầu hết các kiểm soát liên quan tới cuộc kiểm toán thường liên quan tới báo cáo tài chính nhưng không phải tất cả các kiểm soát liên quan tới báo cáo tài chính đều liên quan đến cuộc kiểm toán. Kiểm toán viên phải sử dụng xét đoán chuyên môn để xác định kiểm soát nào, riêng lẻ hay kết hợp với kiểm soát khác, có liên quan tới cuộc kiểm toán (Tham chiếu: Đoạn A42-A65).