Thu thập thông tin

VSA 310 Hieu biet ve tinh hinh kinh doanh st1\:*{behavior:url(#ieooui) }

Thu thập thông tin

  1. Trước khi chấp nhận một hợp đồng kiểm toán, kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải thu thập những thông tin sơ bộ về lĩnh vực hoạt động, loại hình doanh nghiệp, hình thức sở hữu, công nghệ sản xuất, tổ chức bộ máy quản lý và thực tiễn hoạt động của đơn vị, qua đó đánh giá khả năng có thể thu thập được những thông tin (hiểu biết) cần thiết về tình hình kinh doanh để thực hiện công việc kiểm toán.
  2. Sau khi chấp nhận hợp đồng kiểm toán, kiểm toán phải thu thập những thông tin chi tiết cần thiết ngay từ khi bắt đầu công việc kiểm toán. Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên phải luôn xem xét, đánh giá, cập nhất và bổ sung thêm các thông tin mới.
  3. Việc thu thập các thông tin cần thiết về tình hình kinh doanh của đơn vị là một quá trình tích luỹ liên tục, bao gồm việc thu thập, đánh giá và đối chiếu thông tin thu thập được với các bằng chứng kiểm toán ở tất cả các giai đoạn của quá trình kiểm toán. Ví dụ: Các thông tin đã thu thập ở giai đoạn lập kế hoạch vẫn phải được tiếp tục cập nhật và bổ sung thêm ở các giai đoạn kế tiếp để kiểm toán viên hiểu biết đầy đủ hơn về hoạt động của đơn vị.
  4. Đối với hợp đồng kiểm toán năm sau, kiểm toán viên phải cập nhật và đánh giá lại những thông tin đã thu thập trước đây, nhất là những thông tin trong hồ sơ kiểm toán các năm trước. Kiểm toán viên phải chú ý đến các vấn đề tồn tại đã phát hiện trong năm trước và thực hiện các thủ tục nhằm phát hiện ra những thay đổi đáng kể phát sinh sau lần kiểm toán trước.
  5. Kiểm toán viên thu thập thông tin về tình hình kinh doanh từ các nguồn như:

– Kinh nghiệm thực tiễn về đơn vị và ngành nghề kinh doanh của đơn vị được kiểm toán trên báo cáo tổng kết, biên bản làm việc, báo chí;

– Hồ sơ kiểm toán năm trước;

– Trao đổi với Giám đốc, kế toán trưởng hoặc cán bộ, nhân viên của đơn vị được kiểm toán;

– Trao đổi với kiểm toán viên nội bộ và xem xét báo cáo kiểm toán nội bộ của đơn vị được kiểm toán;

– Trao đổi với kiểm toán viên khác và với các nhà tư vấn đã cung cấp dịch vụ cho đơn vị được kiểm toán hoặc hoạt động trong cùng lĩnh vực với đơn vị được kiểm toán;

– Trao đổi với chuyên gia, đối tượng bên ngoài có hiểu biết về đơn vị được kiểm toán (Ví dụ: Chuyên gia kinh tế, cơ quan cấp trên, khách hàng, nhà cung cấp, các đối thủ cạnh tranh…);

– Tham khảo các ấn phẩm liên quan đến lĩnh vực hoạt động của đơn vị được kiểm toán (Ví dụ: Số liệu thống kê của Chính phủ, báo chí chuyên ngành, thông tin của ngân hàng, thông tin của thị trưởng chứng khoán…);

– Các văn bản pháp lý và các quy định có ảnh hưởng đến đơn vị được kiểm toán;

– Khảo sát thực tế văn phòng, nhà xưởng của đơn vị được kiểm toán;

– Các tài liệu do đơn vị được kiểm toán cung cấp (Ví dụ: Nghị quyết và biên bản các cuộc họp, tài liệu gửi cho các cổ đông hay cho cơ quan cấp trên, báo cáo quản lý nội bộ, báo cáo tài chính định kỳ, các chính sách về quản lý kinh tế, tài chính, thuế, hệ thống kế toán, tài liệu kiểm soát nội bộ, quy định về quyền hạn, chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận trong đơn vị…).

Sử dụng hiểu biết

vinasc-da-lat

  1. Những hiểu biết về tình hình kinh doanh là cơ sở quan trọng để kiểm toán viên đưa ra các xét đoán chuyên môn. Mức độ hiểu biết tình hình kinh doanh và việc sử dụng các hiểu biết này một cách hợp lý sẽ trợ giúp kiểm toán viên trong các công việc:

– Đánh giá rủi ro và xác định các vấn đề đáng chú ý;

– Lập kế hoạch và thực hiện công việc kiểm toán một cách hiệu quả;

– Đánh giá bằng chứng kiểm toán;

– Cung cấp dịch vụ tốt hơn cho đơn vị được kiểm toán.

  1. Trong quá trình kiểm toán, hiểu biết về tình hình kinh doanh là rất quan trọng để giúp kiểm toán viên xét đoán trên các khía cạnh cụ thể sau:

– Đánh giá rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát;

– Phân tích rủi ro kinh doanh và các phương án giải quyết của Giám đốc (hoặc người đứng đầu);

– Xây dựng kế hoạch và chương trình kiểm toán;

– Xác định mức độ trọng yếu và đánh giá sự phù hợp của mức độ trọng yếu đó trong quá trình kiểm toán;

– Đánh giá về sự đầy đủ và thích hợp của các bằng chứng kiểm toán;

– Đánh giá các ước tính kế toán và giải trình của Giám đốc.

– Xác định các vùng phải chú ý đặc biệt trong việc kiểm toán và các kỹ năng kiểm toán cần thiết;

– Xác định các bên liên quan và nghiệp vụ phát sinh giữa các bên liên quan;

– Xác định các thông tin có mâu thuẫn;

– Xác định các tình huống bất thường (Ví dụ: Gian lận hoặc không tuân thủ pháp luật và các quy định; số liệu thống kê mâu thuẫn với số liệu báo cáo tài chính…);

– Đặt ra câu hỏi thăm dò và đánh giá mức độ hợp lý của các câu trả lời;

– Xem xét sự phù hợp của chế độ kế toán, các thông tin trình bày trên báo cáo tài chính.

  1. Kiểm toán viên và công ty kiểm toán sử dụng các trợ lý kiểm toán được phân công thực hiện công việc kiểm toán cũng phải đảm bảo đạt được sự hiểu biết nhất định về tình hình kinh doanh để thực hiện công việc của mình. Ngoài ra, các trợ lý phải thực hiện việc thu thập thông tin bổ sung đáp ứng yêu cầu công việc của mình và trao đổi các thông tin đó với các thành viên khác của nhóm.
  2. Để sử dụng hiệu quả các hiểu biết về tình hình kinh doanh, kiểm toán viên phải đánh giá, xem xét mức độ ảnh hưởng tổng thể từ những hiểu biết của mình đến báo cáo tài chính của đơn vị, cũng như sự phù hợp của các cơ sở dẫn liệu trong báo cáo tài chính so với những hiểu biết của kiểm toán viên về tình hình kinh doanh./.