Thái độ hoài nghi nghề nghiệp

06. ISA 240 st1\:*{behavior:url(#ieooui) }

Thái độ hoài nghi nghề nghiệp

  1. Theo Chuẩn mực kiểm toán quốc tế số 200, kiểm toán viên phải duy trì thái độ hoài nghi nghề nghiệp trong suốt cuộc kiểm toán, phải nhận thức được khả năng có thể tồn tại sai sót trọng yếu do gian lận, cho dù trong các cuộc kiểm toán trước, kiểm toán viên đã biết về tính trung thực và chính trực của Ban Giám đốc và Ban quản trị của đơn vị được kiểm toán (Tham chiếu: Đoạn A7-A8).
  2. Trừ khi có lý do để nghi ngờ, kiểm toán viên có thể thừa nhận tính chân thực của chứng từ và sổ kế toán. Nếu trong quá trình kiểm toán có các điều kiện làm cho kiểm toán viên tin rằng một tài liệu có thể là không chân thực hoặc đã bị sửa đổi mà không thông báo cho kiểm toán viên thì kiểm toán viên phải tiến hành điều tra thêm (Tham chiếu: Đoạn A9).
  3. Trường hợp các giải trình của Ban Giám đốc hoặc Ban quản trị theo yêu cầu của kiểm toán viên là không nhất quán, thì kiểm toán viên phải tiến hành điều tra về các điểm không nhất quán đó.

Thảo luận trong nhóm kiểm toán

  1. Chuẩn mực kiểm toán quốc tế số 315 yêu cầu nhóm kiểm toán phải tổ chức thảo luận giữa các thành viên trong nhóm và chủ phần hùn kiểm toán phải xác định các vấn đề cần trao đổi với các thành viên của nhóm kiểm toán không tham gia cuộc thảo luận nhóm.[5] Cuộc thảo luận này phải đặc biệt tập trung vào nội dung và cách thức mà báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán dễ có sai sót trọng yếu do gian lận, kể cả việc gian lận đó có thể xảy ra như thế nào. Cuộc thảo luận này phải được thực hiện kể cả khi nhóm kiểm toán tin tưởng vào tính trung thực và chính trực của Ban Giám đốc và Ban quản trị của đơn vị được kiểm toán (Tham chiếu: Đoạn A10-A11).

Thủ tục đánh giá rủi ro và các hoạt động liên quan

vinasc-tp-hcm

  1. Khi thực hiện thủ tục đánh giá rủi ro và các hoạt động liên quan nhằm tìm hiểu về đơn vị được kiểm toán và môi trường hoạt động của đơn vị, bao gồm kiểm soát nội bộ của đơn vị, theo Chuẩn mực kiểm toán quốc tế số 315,[6] kiểm toán viên phải thực hiện các thủ tục tại các đoạn 17- 24 của Chuẩn mực này để thu thập thông tin nhằm xác định rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận.

Ban Giám đốc và các đối tượng khác trong đơn vị được kiểm toán

  1. Kiểm toán viên phải phỏng vấn Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán về:
  • Đánh giá của Ban Giám đốc về rủi ro báo cáo tài chính có thể có sai sót trọng yếu do gian lận, bao gồm nội dung, phạm vi và tần suất của các đánh giá đó (Tham chiếu: Đoạn A12-A13);
  • Quy trình của Ban Giám đốc về xác định và xử lý rủi ro có gian lận trong đơn vị, bao gồm bất kỳ rủi ro có gian lận cụ thể nào mà Ban Giám đốc đã xác định hoặc đã được thông báo, hoặc các nhóm giao dịch, số dư tài khoản, hoặc thuyết minh mà trong đó có thể tồn tại rủi ro có gian lận (Tham chiếu: Đoạn A14);
  • Việc trao đổi của Ban Giám đốc, nếu có, với Ban quản trị về quy trình xác định và xử lý rủi ro có gian lận trong đơn vị; và
  • Việc trao đổi của Ban Giám đốc, nếu có, với các nhân viên về quan điểm của Ban Giám đốc về các hoạt động kinh doanh và hành vi đạo đức.
  1. Kiểm toán viên phải phỏng vấn Ban Giám đốc và các đối tượng thích hợp khác trong đơn vị được kiểm toán để xác định xem họ có biết về bất kỳ gian lận nào trong thực tế, nghi ngờ có gian lận hoặc cáo buộc gian lận nào ảnh hưởng đến đơn vị hay không (Tham chiếu: Đoạn A15-A17).
  2. Nếu đơn vị được kiểm toán có bộ phận kiểm toán nội bộ thì kiểm toán viên phải phỏng vấn bộ phận kiểm toán nội bộ để xác định xem họ có biết về bất kỳ gian lận nào trong thực tế, nghi ngờ có gian lận hoặc cáo buộc gian lận nào ảnh hưởng đến đơn vị hay không, và để tìm hiểu các quan điểm của bộ phận kiểm toán nội bộ về rủi ro có gian lận (Tham chiếu: Đoạn A18).

Ban quản trị

  1. Trừ khi toàn bộ thành viên Ban quản trị đều tham gia quản lý và điều hành đơn vị được kiểm toán[7], kiểm toán viên phải tìm hiểu cách thức mà Ban quản trị thực hiện chức năng giám sát quy trình xác định và xử lý rủi ro có gian lận trong đơn vị của Ban Giám đốc và kiểm soát nội bộ mà Ban Giám đốc thiết lập để giảm thiểu các rủi ro này (Tham chiếu: Đoạn A19-A21).
  2. Trừ khi toàn bộ thành viên Ban quản trị đều tham gia quản lý và điều hành đơn vị được kiểm toán, kiểm toán viên phải phỏng vấn Ban quản trị để xác định xem Ban quản trị có biết về bất kỳ gian lận nào trong thực tế, nghi ngờ có gian lận hoặc cáo buộc gian lận nào ảnh hưởng đến đơn vị hay không. Việc phỏng vấn này còn giúp cho việc chứng thực các phản hồi của Ban Giám đốc về các nội dung phỏng vấn của kiểm toán viên.

Các mối quan hệ bất thường hoặc ngoài dự kiến đã được xác định

  1. Kiểm toán viên phải đánh giá xem các mối quan hệ bất thường hoặc ngoài dự kiến đã được xác định trong quá trình thực hiện các thủ tục phân tích, trong đó bao gồm các mối quan hệ liên quan đến các tài khoản phản ánh doanh thu, có thể có dấu hiệu về rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận hay không.

Các thông tin khác

  1. Kiểm toán viên phải cân nhắc xem các thông tin khác do kiểm toán viên thu thập được có dấu hiệu về rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận hay không (Tham chiếu: Đoạn A22).

Đánh giá các yếu tố dẫn đến rủi ro có gian lận

  1. Kiểm toán viên phải đánh giá xem các thông tin thu thập được từ các thủ tục đánh giá rủi ro khác và các hoạt động liên quan có cho thấy sự tồn tại của một hoặc nhiều yếu tố dẫn đến rủi ro có gian lận hay không. Mặc dù các yếu tố dẫn đến rủi ro có gian lận không nhất thiết cho thấy có gian lận, nhưng các yếu tố này thường xuất hiện khi các hành vi gian lận đã xảy ra và do đó có thể cho thấy rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận (Tham chiếu: Đoạn A23-A27).