Soát xét việc kiểm soát chất lượng của cuộc kiểm toán

04. ISA 220 v\:* {behavior:url(#default#VML);} o\:* {behavior:url(#default#VML);} w\:* {behavior:url(#default#VML);} .shape {behavior:url(#default#VML);}

Soát xét việc kiểm soát chất lượng của cuộc kiểm toán

Hoàn thành việc soát xét kiểm soát chất lượng của cuộc kiểm toán trước ngày lập báo cáo kiểm toán (Tham chiếu: Đoạn 19(c))

  • Chuẩn mực kiểm toán quốc tế số 700 quy định báo cáo kiểm toán không được lập trước ngày kiểm toán viên thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp làm cơ sở đưa ra ý kiến kiểm toán về báo cáo tài chính.[9] Trường hợp kiểm toán báo cáo tài chính của tổ chức niêm yết hoặc khi cuộc kiểm toán cần phải được soát xét kiểm soát chất lượng thì việc soát xét này sẽ hỗ trợ kiểm toán viên xác định xem đã thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp hay chưa.
  • Thực hiện soát xét việc kiểm soát chất lượng của cuộc kiểm toán kịp thời tại các giai đoạn thích hợp của cuộc kiểm toán giúp giải quyết kịp thời và thỏa đáng các vấn đề quan trọng trước ngày lập báo cáo kiểm toán.
  • Hoàn thành việc soát xét kiểm soát chất lượng của cuộc kiểm toán có nghĩa là người soát xét việc kiểm soát chất lượng thực hiện đầy đủ các quy định tại đoạn 20-21 và tuân thủ quy định tại đoạn 22, nếu cần thiết. Hồ sơ ghi chép việc soát xét kiểm soát chất lượng có thể được hoàn thành sau ngày lập báo cáo kiểm toán, như một phần của hồ sơ kiểm toán cuối cùng. Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 230 quy định và hướng dẫn về vấn đề này.[10]

Nội dung, phạm vi và lịch trình thực hiện việc soát xét kiểm soát chất lượng của cuộc kiểm toán (Tham chiếu: Đoạn 20)

  • Chủ phần hùn phụ trách tổng thể cuộc kiểm toán cần duy trì cảnh giác về các thay đổi trong quá trình kiểm toán để phát hiện các tình huống yêu cầu thực hiện việc soát xét kiểm soát chất lượng của cuộc kiểm toán, mặc dù vào thời điểm bắt đầu cuộc kiểm toán thì yêu cầu này chưa được xác định là cần thiết.
  • Phạm vi của việc soát xét kiểm soát chất lượng của cuộc kiểm toán có thể phụ thuộc vào nhiều yếu tố, như độ phức tạp của cuộc kiểm toán, đơn vị được kiểm toán là tổ chức niêm yết và rủi ro đưa ra ý kiến kiểm toán không phù hợp. Soát xét việc kiểm soát chất lượng không làm giảm bớt trách nhiệm của chủ phần hùn đối với cuộc kiểm toán và việc thực hiện cuộc kiểm toán.

Soát xét việc kiểm soát chất lượng đối với cuộc kiểm toán tổ chức niêm yết (Tham chiếu: Đoạn 21)

  • Những vấn đề khác liên quan đến việc đánh giá các xét đoán quan trọng của nhóm kiểm toán có thể được xem xét trong quá trình soát xét việc kiểm soát chất lượng đối với cuộc kiểm toán tổ chức niêm yết, gồm:
  • Các rủi ro đáng kể phát hiện trong cuộc kiểm toán theo Chuẩn mực kiểm toán quốc tế số 315,[11] và các biện pháp được nhóm kiểm toán áp dụng theo Chuẩn mực kiểm toán quốc tế số 330,[12] kể cả đánh giá của nhóm kiểm toán và các biện pháp xử lý đối với rủi ro có gian lận theo Chuẩn mực kiểm toán quốc tế số 240;[13]
  • Các xét đoán được đưa ra, đặc biệt là xét đoán về mức trọng yếu và rủi ro đáng kể;
  • Mức độ quan trọng yếu và xu hướng của các sai sót đã được điều chỉnh và chưa được điều chỉnh phát hiện trong cuộc kiểm toán;
  • Các vấn đề được trao đổi với Ban Giám đốc và Ban quản trị của đơn vị được kiểm toán và các bên khác như cơ quan quản lý, nếu cần thiết.

Tùy vào hoàn cảnh cụ thể, các vấn đề nêu trên cũng có thể áp dụng cho soát xét việc kiểm soát chất lượng của cuộc kiểm toán báo cáo tài chính của các đơn vị khác.

Lưu ý khi kiểm toán các đơn vị nhỏ (Tham chiếu: Đoạn 20-21)

  • Ngoài việc soát xét kiểm soát chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính các tổ chức niêm yết, một số cuộc kiểm toán khác cùng cần được soát xét việc kiểm soát chất lượng theo quy định của doanh nghiệp kiểm toán. Trong một số trường hợp, không có cuộc kiểm toán nào của doanh nghiệp kiểm toán đáp ứng đủ các tiêu chí để phải thực hiện việc soát xét.

Lưu ý khi kiểm toán các đơn vị trong lĩnh vực công (Tham chiếu: Đoạn 20-21)

  • Khi kiểm toán các đơn vị trong lĩnh vực công, một kiểm toán viên được pháp luật chỉ định (ví dụ, Tổng kiểm toán, hoặc cá nhân khác có năng lực phù hợp được chỉ định thay mặt cho Tổng kiểm toán) có thể giữ vai trò tương đương với chủ phần hùn kiểm toán và có trách nhiệm tổng thể đối với cuộc kiểm toán. Khi đó, việc lựa chọn người soát xét việc kiểm soát chất lượng của cuộc kiểm toán cần lưu ý đến yêu cầu về tính độc lập đối với đơn vị được kiểm toán và khả năng đưa ra đánh giá khách quan của người soát xét.
  • Các tổ chức niêm yết như đề cập trong đoạn 21 và A28 không phổ biến trong khu vực công. Tuy nhiên, có thể có những doanh nghiệp công được xem là quan trọng do quy mô, độ phức tạp hoặc có liên quan đến lợi ích công chúng, nên có nhiều cá nhân hoặc tổ chức quan tâm đến doanh nghiệp, như các công ty nhà nước, các công ty cung cấp dịch vụ công cộng. Quá trình chuyển đổi liên tục trong lĩnh vực công cũng có thể làm xuất hiện những loại hình doanh nghiệp quan trọng mới. Không có tiêu chuẩn cố định nào làm cơ sở quyết định mức độ quan trọng của đơn vị trong lĩnh vực công. Tuy nhiên, khi kiểm toán đơn vị trong lĩnh vực công, kiểm toán viên cần đánh giá tầm quan trọng của đơn vị đó để quyết định thực hiện việc soát xét kiểm soát chất lượng của cuộc kiểm toán.

Giám sát (Tham chiếu: Đoạn 23)

vinasc-city-61

  • ISQC 1 yêu cầu doanh nghiệp kiểm toán xây dựng một quy trình giám sát để có sự đảm bảo hợp lý rằng các thủ tục và chính sách về hệ thống kiểm soát chất lượng là phù hợp, đầy đủ và có hiệu quả.[14]
  • Khi xem xét các khiếm khuyết có thể ảnh hưởng đến cuộc kiểm toán, chủ phần hùn kiểm toán có thể tham khảo đến các thủ tục mà doanh nghiệp kiểm toán thực hiện để khắc phục các khiếm khuyết này mà chủ phần hùn kiểm toán cho là phù hợp với hoàn cảnh cuộc kiểm toán.
  • Một khiếm khuyết trong hệ thống kiểm soát chất lượng của doanh nghiệp kiểm toán không đồng nghĩa với việc một cuộc kiểm toán nào đó không được thực hiện theo các chuẩn mực nghề nghiệp, pháp luật và các quy định có liên quan, hoặc cũng không có nghĩa báo cáo kiểm toán là không phù hợp.

Tài liệu, hồ sơ kiểm toán

Ghi chép về việc tham khảo ý kiến tư vấn (Tham chiếu: Đoạn 24(d))

  • Việc ghi chép đầy đủ và chi tiết về các vấn đề phức tạp hoặc dễ gây tranh cãi đã được tham khảo ý kiến tư vấn giúp kiểm toán viên hiểu về:
  • Vấn đề đã tham khảo ý kiến tư vấn;
  • Kết quả tư vấn, bao gồm các quyết định được đưa ra, cơ sở của quyết định đó và cách thức thực hiện