Quá trình trao đổi

08. ISA 260 v\:* {behavior:url(#default#VML);} o\:* {behavior:url(#default#VML);} w\:* {behavior:url(#default#VML);} .shape {behavior:url(#default#VML);}

Quá trình trao đổi

Thiết lập quá trình trao đổi

  1. Kiểm toán viên phải trao đổi với Ban quản trị đơn vị được kiểm toán về hình thức, thời gian và nội dung dự kiến trao đổi (Tham chiếu: Đoạn A28-A36).

Hình thức trao đổi

  1. Kiểm toán viên phải trao đổi bằng văn bản với Ban quản trị đơn vị về những phát hiện quan trọng trong quá trình kiểm toán mà theo xét đoán chuyên môn của kiểm toán viên thì việc trao đổi bằng lời là không thích hợp. Kiểm toán viên không nhất thiết phải trao đổi bằng văn bản về mọi vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm toán (Tham chiếu: Đoạn A37-A39).
  2. Kiểm toán viên phải trao đổi bằng văn bản với Ban quản trị đơn vị được kiểm toán về tính độc lập của kiểm toán viên theo quy định tại đoạn 17 Chuẩn mực này.

Thời điểm trao đổi

  1. Kiểm toán viên phải kịp thời trao đổi các vấn đề nêu trên với Ban quản trị đơn vị được kiểm toán (Tham chiếu: Đoạn A40-A41).

Tính đầy đủ và phù hợp của quy trình trao đổi

  1. Kiểm toán viên phải đánh giá xem nội dung trao đổi 2 chiều giữa kiểm toán viên với Ban quản trị đơn vị được kiểm toán đã đầy đủ cho mục đích của cuộc kiểm toán hay chưa. Nếu thấy nội dung trao đổi chưa đủ, kiểm toán viên cần đánh giá mức độ ảnh hưởng (nếu có) đến đánh giá của kiểm toán viên về rủi ro có sai sót trọng yếu và khả năng thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp, đồng thời thực hiện thêm các biện pháp khắc phục phù hợp (Tham chiếu: Đoạn A42-A44).

Tài liệu, hồ sơ kiểm toán

  1. Khi trao đổi bằng lời về các vấn đề quan trọng theo quy định của Chuẩn mực này, kiểm toán viên phải ghi lại nội dung của các vấn đề đã trao đổi, thời gian trao đổi và những người tham gia trao đổi. Trường hợp trao đổi bằng văn bản, kiểm toán viên phải lưu trong hồ sơ kiểm toán văn bản trao đổi[2] (Tham chiếu: Đoạn A45).

vinasc-hue

Hướng dẫn áp dụng

Ban quản trị đơn vị được kiểm toán (Tham chiếu: Đoạn 11)

  • Bộ máy quản trị khác nhau theo từng đơn vị và từng quốc gia, phụ thuộc vào nền tảng văn hóa và pháp lý khác nhau, quy mô doanh nghiệp và hình thức sở hữu. Ví dụ:
  • Ở một số quốc gia, một ủy ban giám sát (với toàn bộ hoặc hầu hết thành viên không tham gia điều hành) tồn tại độc lập về pháp lý với ban điều hành (cơ cấu 2 tầng). Tại một số quốc gia khác, cả chức năng giám sát và chức năng điều hành là trách nhiệm pháp lý của một bộ phận duy nhất (cơ cấu 1 tầng).
  • Tại một số đơn vị, thành viên Ban quản trị nắm giữ các vị trí được quy định trong cấu trúc pháp lý của đơn vị, ví dụ như giám đốc công ty. Tại một số đơn vị khác, như một số đơn vị của chính phủ, Ban quản trị là một bộ phận bên ngoài đơn vị.
  • Trong một số trường hợp, một số hoặc toàn bộ thành viên Ban quản trị đơn vị đều tham gia quản lý và điều hành đơn vị. Các trường hợp khác, thành viên Ban quản trị và Ban Giám đốc đơn vị hoàn toàn khác nhau.
  • Trong một số trường hợp, Ban quản trị chịu trách nhiệm phê duyệt[3] báo cáo tài chính (trong các trường hợp khác đây là trách nhiệm của Ban Giám đốc). (
    • Tại hầu hết các đơn vị, quản trị doanh nghiệp là trách nhiệm tập thể của bộ phận có chức năng quản trị, như Hội đồng quản trị, Ban giám sát, các chủ phần hùn, chủ doanh nghiệp, ban quản lý, người được ủy quyền hoặc những người nắm giữ các vị trí tương đương. Tuy nhiên, ở các đơn vị có quy mô nhỏ, quản trị doanh nghiệp có thể chỉ là 1 người vừa nắm giữ vai trò chủ doanh nghiệp vừa kiêm giám đốc, đồng thời doanh nghiệp không có chủ sở hữu hay người được ủy quyền nào khác. Khi quản trị doanh nghiệp thuộc trách nhiệm tập thể, một bộ phận nhỏ như ủy ban kiểm toán hoặc thậm chí chỉ một cá nhân, có thể được giao nhiệm vụ hỗ trợ Ban quản trị thực hiện trách nhiệm của Ban quản trị. Bộ phận hoặc cá nhân này có thể chịu trách nhiệm cụ thể trước pháp luật, độc lập với trách nhiệm của Ban quản trị.
    • Do tính đa dạng nêu trên, Chuẩn mực này không quy định tất cả các đối tượng trong đơn vị được kiểm toán mà kiểm toán viên cần trao đổi các vấn đề cụ thể. Trong một số trường hợp, khó xác định chính xác người thích hợp để kiểm toán viên trao đổi do các quy định của pháp luật hoặc điều kiện cụ thể của đơn vị, như các đơn vị không có cơ cấu Ban quản trị chính thức, như công ty gia đình, tổ chức phi lợi nhuận, và một số cơ quan chính phủ. Trường hợp này, kiểm toán viên cần thảo luận và thống nhất với đơn vị được kiểm toán về người mà mình cần trao đổi thông tin. Để xác định được người cần trao đổi thông tin, kiểm toán viên cần tìm hiểu bộ máy và các quy trình quản trị của đơn vị được kiểm toán theo Chuẩn mực kiểm toán quốc tế số 315.[4] Người được lựa chọn để trao đổi có thể thay đổi phù hợp với nội dung của vấn đề cần trao đổi.
    • Chuẩn mực kiểm toán quốc tế số 600 quy định các vấn đề cụ thể mà kiểm toán viên phải trao đổi với Ban quản trị đơn vị được kiểm toán.[5] Khi đơn vị được kiểm toán là đơn vị thành viên của một tập đoàn, việc lựa chọn người mà kiểm toán viên của đơn vị thành viên cần trao đổi phụ thuộc vào tình hình cuộc kiểm toán và nội dung vấn đề cần trao đổi. Trong nhiều trường hợp, các đơn vị thành viên cùng hoạt động trong một lĩnh vực kinh doanh, trong cùng một hệ thống kiểm soát nội bộ, cùng sử dụng một hệ thống kế toán và có cùng một Ban quản trị (ví dụ có chung Hội đồng quản trị), kiểm toán viên có thể trao đổi về các vấn đề của các đơn vị thành viên trong cùng một cuộc trao đổi.

Trao đổi với một bộ phận trong Ban quản trị đơn vị được kiểm toán (Tham chiếu: Đoạn 12)

  • Khi cân nhắc nội dung trao đổi với một bộ phận trong Ban quản trị đơn vị được kiểm toán, kiểm toán viên cần phải lưu ý đến các vấn đề sau:
  • Trách nhiệm của từng bộ phận và của Ban quản trị;
  • Nội dung của vấn đề cần trao đổi;
  • Pháp luật và các quy định có liên quan;
  • Liệu bộ phận trong Ban quản trị có đủ thẩm quyền tiến hành các biện pháp xử lý đối với các vấn đề được trao đổi và có thể cung cấp thêm thông tin và giải trình mà kiểm toán viên cần hay không.
    • Khi quyết định có nên trao đổi đầy đủ hay tóm tắt thông tin với Ban quản trị, kiểm toán viên có thể cần đánh giá về mức độ phù hợp và hiệu quả của việc trao đổi thông tin giữa từng bộ phận của Ban quản trị với toàn thể Ban quản trị. Kiểm toán viên có thể nêu rõ trong điều khoản của hợp đồng kiểm toán rằng nếu pháp luật không ngăn cấm thì kiểm toán viên có quyền trao đổi trực tiếp với Ban quản trị.
    • Ở nhiều quốc gia có Ủy ban kiểm toán (hoặc bộ phận tương tự). Mặc dù quyền hạn và chức năng cụ thể của bộ phận này có thể khác nhau nhưng việc trao đổi với Ủy ban kiểm soát (nếu có) là một việc cần thiết trong quá trình trao đổi thông tin của kiểm toán viên với Ban quản trị đơn vị được kiểm toán. Nguyên tắc quản trị tốt khuyến nghị các điểm sau:
  • Nên thường xuyên mời kiểm toán viên tham dự các cuộc họp của Ủy ban kiểm toán;
  • Trưởng ban và các thành viên khác của Ủy ban kiểm toán nên định kỳ liên lạc với kiểm toán viên;
  • Ủy ban kiểm toán nên gặp kiểm toán viên ít nhất một năm một lần mà không có sự tham gia của Ban Giám đốc.

Trường hợp toàn bộ Ban quản trị đều là thành viên Ban Giám đốc của đơn vị (Tham chiếu: Đoạn 13)

  • Trường hợp toàn bộ thành viên Ban quản trị đều là thành viên Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán thì việc áp dụng các quy định về trao đổi thông tin cần được thay đổi cho phù hợp. Trong trường hợp đó, việc trao đổi với người (hoặc những người) trong Ban Giám đốc có thể không truyền đạt hết thông tin tới tất cả những người mà kiểm toán viên cần phải trao đổi với họ với tư cách là thành viên Ban quản trị. Ví dụ, trong một công ty mà tất cả thành viên Ban quản trị đều là thành viên Ban Giám đốc, một số thành viên (như thành viên phụ trách bán hàng) có thể không biết về những vấn đề quan trọng đã được trao đổi với một thành viên khác (như thành viên phụ trách việc lập báo cáo tài chính).