Kiểm toán viên không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng kiểm toán

06. ISA 240 st1\:*{behavior:url(#ieooui) }

Kiểm toán viên không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng kiểm toán (Tham chiếu: Đoạn 38)

  • Ví dụ về các trường hợp hãn hữu có thể phát sinh và có thể làm cho kiểm toán viên phải cân nhắc khả năng tiếp tục thực hiện hợp đồng kiểm toán, gồm:
    • Đơn vị không thực hiện biện pháp phù hợp để xử lý gian lận mà kiểm toán viên cho là cần thiết trong hoàn cảnh cụ thể, kể cả khi các gian lận này không ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính;
    • Việc kiểm toán viên xem xét rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận và kết quả của các thử nghiệm kiểm toán cho thấy có rủi ro đáng kể có sai sót do gian lận mà sai sót này là trọng yếu và lan tỏa; hoặc
    • Kiểm toán viên lo ngại về năng lực hoặc tính chính trực của Ban Giám đốc hoặc Ban quản trị đơn vị.
  • Do nhiều tính huống có thể phát sinh nên này không thể xác định khi nào việc rút khỏi hợp đồng kiểm toán là phù hợp. Một số yếu tố làm cho kiểm toán viên phải cân nhắc rút khỏi hợp đồng kiểm toán là khi thành viên Ban Giám đốc hoặc Ban quản trị đơn vị được kiểm toán có liên quan đến gian lận (có thể ảnh hưởng đến độ tin cậy của các giải trình của Ban Giám đốc) và các ảnh hưởng đối với kiểm toán viên nếu tiếp tục thực hiện hợp đồng kiểm toán.
  • Kiểm toán viên có trách nhiệm nghề nghiệp và trách nhiệm pháp lý trong trường hợp không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng kiểm toán và trách nhiệm này có thể khác nhau đối với từng quốc gia. Ví dụ tại một số nước, kiểm toán viên có thể có quyền hoặc được yêu cầu báo cáo cho người chỉ định kiểm toán hoặc trong một số trường hợp, với cơ quan có thẩm quyền. Do tính chất đặc biệt của hoàn cảnh và sự cần thiết phải xem xét các quy định của pháp luật, kiểm toán viên có thể xin ý kiến của chuyên gia tư vấn pháp luật khi quyết định rút khỏi một hợp đồng kiểm toán và khi xác định các hành động thích hợp, bao gồm khả năng báo cáo cho các cổ đông, cơ quan quản lý và các bên khác.[22]

Lưu ý khi kiểm toán các đơn vị trong lĩnh vực công

  • Trong nhiều trường hợp, khi kiểm toán các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực công, kiểm toán viên không được rút khỏi hợp đồng kiểm toán theo quy định của pháp luật hoặc để đáp ứng lợi ích của công chúng.

Giải trình bằng văn bản (Tham chiếu: Đoạn 39)

  • Chuẩn mực kiểm toán quốc tế số 580[23] quy định và hướng dẫn về việc thu thập các giải trình thích hợp từ Ban Giám đốc hoặc Ban quản trị, trong quá trình kiểm toán. Ngoài việc xác nhận đã hoàn thành trách nhiệm của mình trong việc lập và trình bày báo cáo tài chính, Ban Giám đốc hoặc Ban quản trị phải thừa nhận trách nhiệm của mình đối với việc thiết lập, thực hiện và duy trì kiểm soát nội bộ nhằm ngăn chặn và phát hiện gian lận, bất kể quy mô của đơn vị thế nào.
  • Do bản chất của gian lận và những khó khăn mà kiểm toán viên gặp phải trong việc phát hiện các sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính do gian lận, kiểm toán viên cần phải thu thập được giải trình bằng văn bản từ Ban Giám đốc hoặc Ban quản trị xác nhận rằng họ đã cung cấp cho kiểm toán viên:
  • Kết quả đánh giá của Ban Giám đốc về rủi ro báo cáo tài chính có sai sót trọng yếu do gian lận;
  • Sự nhận biết của Ban Giám đốc hoặc Ban quản trị về những gian lận thực tế đã xảy ra, nghi ngờ hoặc cáo buộc gian lận có ảnh hưởng đến đơn vị.

Trao đổi với Ban Giám đốc và Ban quản trị

vinasc-phong-canh

Trao đổi với Ban Giám đốc (Tham chiếu: Đoạn 40)

  • Khi đã thu thập được bằng chứng về sự tồn tại hoặc có thể tồn tại gian lận, kiểm toán viên cần trao đổi ngay với cấp quản lý thích hợp của đơn vị được kiểm toán, kể cả khi vấn đề phát hiện được có thể được coi là không có ảnh hưởng đáng kể (ví dụ, việc biển thủ tài sản có giá trị nhỏ của một nhân viên cấp thấp trong đơn vị). Việc xác định cấp quản lý thích hợp của đơn vị để trao đổi tùy thuộc vào xét đoán chuyên môn của kiểm toán viên và chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như khả năng thông đồng, nội dung và tầm quan trọng của gian lận. Thông thường, cấp quản lý thích hợp của đơn vị phải cao hơn ít nhất một cấp so với những người có liên quan đến gian lận.

Trao đổi với Ban quản trị (Tham chiếu: Đoạn 41)

  • Kiểm toán viên có thể trao đổi với Ban quản trị bằng lời hoặc bằng văn bản. Chuẩn mực kiểm toán quốc tế số 260 xác định các yếu tố mà kiểm toán viên cần xem xét để quyết định cần trao đổi bằng lời hay bằng văn bản.[24] Do nội dung và độ nhạy cảm của gian lận có liên quan đến ban quản lý cấp cao, hoặc gian lận dẫn đến sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính, kiểm toán viên cần báo cáo các vấn đề trên một cách kịp thời và có thể xem xét sự cần thiết phải báo cáo bằng văn bản.
  • Trong một số trường hợp, kiểm toán viên có thể thấy cần trao đổi với Ban quản trị mặc dù gian lận được phát hiện chỉ liên quan đến các nhân viên mà không phải là Ban Giám đốc và không dẫn đến sai sót trọng yếu. Tương tự, Ban quản trị có thể mong muốn được thông báo về những trường hợp đó. Quy trình trao đổi này sẽ được thực hiện hiệu quả nếu kiểm toán viên và Ban quản trị đã thống nhất ngay trong giai đoạn đầu của cuộc kiểm toán về nội dung và phạm vi trao đổi của kiểm toán viên đối với vấn đề liên quan đến gian lận.
  • Trường hợp có nghi ngờ về tính chính trực hay tính trung thực của Ban Giám đốc hoặc Ban quản trị, thì kiểm toán viên cần cân nhắc việc xin ý kiến của chuyên gia tư vấn pháp luật để xác định biện pháp thích hợp.

Các vấn đề khác liên quan đến gian lận (Tham chiếu: Đoạn 42)

  • Các vấn đề khác liên quan đến gian lận cần được thảo luận với Ban quản trị của đơn vị có thể bao gồm:
    • Lo ngại về nội dung, phạm vi và tần suất thực hiện đánh giá của Ban Giám đốc đối với các kiểm soát đang được thực hiện để ngăn chặn và phát hiện gian lận và đối với rủi ro làm cho báo cáo tài chính có thể bị sai sót;
    • Ban Giám đốc không khắc phục được các khiếm khuyết trọng yếu đã được phát hiện trong kiểm soát nội bộ, hoặc không xử lý được một cách thích hợp đối với các gian lận đã được phát hiện;
    • Đánh giá của kiểm toán viên về môi trường kiểm soát của đơn vị, bao gồm các nghi ngờ về năng lực và tính chính trực của Ban Giám đốc;
    • Các hành động của Ban Giám đốc có thể cho thấy việc lập báo cáo tài chính gian lận, như việc Ban Giám đốc lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán có thể cho thấy mục đích của Ban Giám đốc là để điều chỉnh kết quả kinh doanh làm cho người sử dụng báo cáo tài chính hiểu không đúng về tình hình hoạt động và khả năng sinh lời của đơn vị;
    • Các lo ngại về tính thích hợp và tính đầy đủ của việc phê duyệt các nghiệp vụ bất thường của đơn vị.