Hoài nghi nghề nghiệp và xét đoán chuyên môn

 

Hoài nghi nghề nghiệp và xét đoán chuyên môn

Hoài nghi nghề nghiệp (hướng dẫn đoạn 37 Chuẩn mực này)

A76. Hoài nghi nghề nghiệp là thái độ cảnh giác đối với các vấn đề như:

  • Các bằng chứng mâu thuẫn với nhau;
  • Thông tin dẫn đến việc nghi ngờ về độ tin cậy của các tài liệu và kết quả phỏng vấn đã được sử dụng làm bằng chứng;
  • Các tình huống đặt ra yêu cầu phải thực hiện thủ tục bổ sung ngoài những thủ tục mà các chuẩn mực Việt Nam về hợp đồng dịch vụ đảm bảo (VSAEs) yêu cầu;
  • Các sự kiện có thể là dấu hiệu của sai sót.

A77. Kiểm toán viên cần duy trì thái độ hoài nghi nghề nghiệp trong suốt thời gian thực hiện hợp đồng dịch vụ để giảm các rủi ro:

  • Bỏ qua các sự kiện và tình huống bất thường;
  • Vội vàng rút ra kết luận chỉ từ việc quan sát;
  • Sử dụng các giả định không phù hợp khi xác định nội dung, lịch trình và phạm vi của thủ tục và đánh giá kết quả của các thủ tục đó.

A78. Kiểm toán viên phải có thái độ hoài nghi nghề nghiệp để đánh giá một cách nghiêm túc đối với bằng chứng. Điều này bao gồm sự nghi ngờ đối với các bằng chứng mâu thuẫn, trái ngược và đánh giá mức độ tin cậy của các tài liệu, kết quả phỏng vấn. Thái độ hoài nghi nghề nghiệp cũng bao gồm việc xem xét về tính đầy đủ và thích hợp của các bằng chứng thu thập được trong từng hoàn cảnh cụ thể.

A79. Nếu hợp đồng dịch vụ không liên quan đến việc đảm bảo tính xác thực của tài liệu thì các chứng từ, tài liệu có thể được chấp nhận là xác thực nếu kiểm toán viên không có lý do nào để tin rằng chứng từ, tài liệu đó là không xác thực. Tuy nhiên, theo quy định tại đoạn 50 Chuẩn mực này, kiểm toán viên phải xem xét độ tin cậy của thông tin được sử dụng làm bằng chứng.

A80. Kiểm toán viên có thể sử dụng kinh nghiệm và hiểu biết của mình trong quá khứ về sự trung thực và tính chính trực của người cung cấp bằng chứng. Tuy nhiên, việc tin tưởng vào sự trung thực và tính chính trực của người cung cấp bằng chứng không làm giảm thái độ hoài nghi nghề nghiệp của kiểm toán viên.

Xét đoán chuyên môn (hướng dẫn đoạn 38 Chuẩn mực này)

A81. Xét đoán chuyên môn là đòi hỏi thiết yếu khi thực hiện hợp đồng dịch vụ đảm bảo. Kiểm toán viên sẽ không thể hiểu chuẩn mực và các quy định về đạo đức nghề nghiệp, các chuẩn mực Việt Nam về hợp đồng dịch vụ đảm bảo, và đưa ra các quyết định cần thiết trong quá trình thực hiện hợp đồng dịch vụ nếu không sử dụng các kiến thức và kinh nghiệm một cách phù hợp với thực tế và hoàn cảnh cụ thể. Xét đoán chuyên môn rất cần thiết trong việc đưa ra các quyết định về:

  • Mức trọng yếu và rủi ro hợp đồng;
  • Nội dung, lịch trình và phạm vi các thủ tục được sử dụng để đáp ứng các yêu cầu của các chuẩn mực Việt Nam về hợp đồng dịch vụ đảm bảo có liên quan và thu thập bằng chứng;
  • Đánh giá tính đầy đủ và thích hợp của các bằng chứng đã thu thập và sự cần thiết phải thu thập thêm các bằng chứng để đạt được mục tiêu của Chuẩn mực này và các chuẩn mực Việt Nam về hợp đồng dịch vụ đảm bảo khác áp dụng cho một đối tượng dịch vụ đảm bảo cụ thể. Đặc biệt với hợp đồng dịch vụ đảm bảo có giới hạn, xét đoán chuyên môn là cần thiết để đánh giá liệu đã đạt được mức độ đảm bảo chấp nhận được hay chưa;
  • Đưa ra kết luận phù hợp dựa trên các bằng chứng đã thu thập.
  • vinasc-city-70

A82. Đặc điểm nổi bật về tính xét đoán chuyên môn mà kiểm toán viên phải có là việc kiểm toán viên sử dụng những kiến thức được đào tạo, sự hiểu biết và kinh nghiệm để phát triển kỹ năng cần thiết nhằm đưa ra những xét đoán hợp lý.

A83. Việc sử dụng xét đoán chuyên môn trong bất kỳ trường hợp nào đều dựa trên hiểu biết của kiểm toán viên về thực tế và hoàn cảnh cụ thể. Đối với những vấn đề phức tạp hoặc dễ gây tranh cãi xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng dịch vụ, để đưa ra xét đoán chuyên môn có tính chuyên nghiệp và hợp lý, bao gồm mức độ mà các vấn đề cụ thể trong thông tin về đối tượng dịch vụ đảm bảo bị ảnh hưởng bởi xét đoán của bên có trách nhiệm liên quan, kiểm toán viên có thể tham khảo ý kiến tư vấn ở mức độ thích hợp trong nội bộ nhóm thực hiện hợp đồng dịch vụ hoặc giữa nhóm thực hiện hợp đồng dịch vụ với các bên khác trong hoặc ngoài doanh nghiệp kiểm toán.

A84. Xét đoán chuyên môn có thể được đánh giá dựa vào việc xem xét sự vận dụng các nguyên tắc về dịch vụ đảm bảo, đo lường hoặc đánh giá một cách thành thạo, phù hợp và nhất quán với thực tế và tình huống cụ thể mà kiểm toán viên biết được cho đến ngày lập báo cáo dịch vụ đảm bảo.

A85. Xét đoán chuyên môn cần được sử dụng trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng dịch vụ và thể hiện một cách thích hợp trong tài liệu, hồ sơ hợp đồng dịch vụ. Theo quy định tại đoạn 79 Chuẩn mực này, kiểm toán viên phải lập và lưu lại đầy đủ tài liệu, hồ sơ về hợp đồng dịch vụ để một kiểm toán viên có kinh nghiệm, không có mối liên hệ nào trước đó với hợp đồng dịch vụ, có thể hiểu được những xét đoán chuyên môn quan trọng mà kiểm toán viên đã thực hiện để đưa ra kết luận về những vấn đề trọng yếu phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng dịch vụ. Kiểm toán viên không được sử dụng xét đoán chuyên môn để biện hộ cho những quyết định không chứng minh được bằng thực tế, bằng hoàn cảnh cụ thể của hợp đồng dịch vụ hoặc bằng các bằng chứng đầy đủ và thích hợp.