Đánh giá bằng chứng đã thu thập được

   Đánh giá bằng chứng đã thu thập được

  1. Kiểm toán viên phải đánh giá liệu có thu thập được đầy đủ bằng chứng thích hợp từ các thủ tục đã thực hiện hay không, và nếu chưa, kiểm toán viên phải thực hiện các thủ tục khác mà theo xét đoán của kiểm toán viên là cần thiết trong hoàn cảnh cụ thể để hình thành kết luận về báo cáo tài chính (xem hướng dẫn tại đoạn A103 Chuẩn mực này).
  2. Nếu kiểm toán viên không thể thu thập được đầy đủ bằng chứng thích hợp để hình thành kết luận, kiểm toán viên phải thảo luận với Ban Giám đốc hoặc Ban quản trị đơn vị được soát xét về ảnh hưởng của những hạn chế này đối với phạm vi soát xét (xem hướng dẫn tại đoạn A104 – A105 Chuẩn mực này).

         Đánh giá ảnh hưởng đối với báo cáo soát xét độc lập

  1. Kiểm toán viên phải đánh giá bằng chứng thu thập được từ việc thực hiện các thủ tục soát xét để xác định ảnh hưởng của các bằng chứng đó đối với báo cáo soát xét (xem hướng dẫn tại đoạn A103 Chuẩn mực này).

         Hình thành kết luận của kiểm toán viên về báo cáo tài chính

         Xem xét khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng liên quan đến báo cáo tài chính

  1. Để hình thành kết luận về báo cáo tài chính, kiểm toán viên phải:

(a)            Đánh giá liệu báo cáo tài chính có tham chiếu đến hay mô tả đầy đủ khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng hay không (xem hướng dẫn tại đoạn A106 – A107 Chuẩn mực này);

(b)            Xem xét, theo khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng và kết quả của các thủ tục đã thực hiện, liệu:

  • Thuật ngữ được dùng trong các báo cáo tài chính, kể cả tiêu đề của từng báo cáo tài chính, có thích hợp hay không;
  • Báo cáo tài chính có thuyết minh đầy đủ các chính sách kế toán quan trọng được lựa chọn và áp dụng hay không;
  • Các chính sách kế toán được lựa chọn và áp dụng có nhất quán với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng và có thích hợp hay không;
  • Các ước tính kế toán do Ban Giám đốc đơn vị đưa ra có hợp lý hay không;
  • Các thông tin được trình bày trong báo cáo tài chính có phù hợp, đáng tin cậy, có thể so sánh được và dễ hiểu hay không;
  • Báo cáo tài chính có cung cấp đầy đủ các thuyết minh giúp người sử dụng báo cáo tài chính hiểu được ảnh hưởng của các giao dịch và sự kiện trọng yếu đối với các thông tin được trình bày trong báo cáo tài chính hay không (xem hướng dẫn tại đoạn A108 – A110 Chuẩn mực này).
  1. Kiểm toán viên phải xem xét ảnh hưởng của:

  2. vinasc-city-2

(a)            Những sai sót phát hiện trong kỳ soát xét hiện tại và trong kỳ soát xét báo cáo tài chính năm trước nhưng chưa được điều chỉnh đối với tổng thể báo cáo tài chính;

(b)            Các khía cạnh định tính trong công việc kế toán của đơn vị được soát xét, kể cả dấu hiệu về sự thiên lệch trong xét đoán của Ban Giám đốc đơn vị (xem hướng dẫn tại đoạn A111 – A112 Chuẩn mực này).

  1. Nếu báo cáo tài chính được lập theo khuôn khổ về trình bày hợp lý, việc đánh giá của kiểm toán viên phải bao gồm (xem hướng dẫn tại đoạn A109 Chuẩn mực này):

(a)            Cách trình bày, cấu trúc và nội dung tổng thể của báo cáo tài chính theo khuôn khổ được áp dụng;

(b)           Liệu báo cáo tài chính, bao gồm các thuyết minh liên quan, có phản ánh các giao dịch và sự kiện theo một cách thức nhằm phản ánh trung thực và hợp lý đối với tổng thể báo cáo tài chính, trong phạm vi phù hợp, hay không.

         Hình thành kết luận của kiểm toán viên

  1. Kết luận của kiểm toán viên về báo cáo tài chính, dù là kết luận chấp nhận toàn phần hay không phải là kết luận chấp nhận toàn phần, phải được thể hiện trong một văn bản phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng cho báo cáo tài chính.

Kết luận chấp nhận toàn phần

  1. Kiểm toán viên phải đưa ra kết luận chấp nhận toàn phần trong báo cáo soát xét về tổng thể báo cáo tài chính khi kiểm toán viên đạt được sự đảm bảo có giới hạn để kết luận rằng không có sự kiện nào khiến kiểm toán viên cho rằng báo cáo tài chính không được lập, trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng.
  2. Khi đưa ra kết luận chấp nhận toàn phần, kiểm toán viên phải dùng một trong những cách diễn đạt sau, trừ khi pháp luật và các quy định có liên quan yêu cầu khác (xem hướng dẫn tại đoạn A113 – A114 của Chuẩn mực này):

(a)            “Trên cơ sở công việc soát xét của chúng tôi, chúng tôi không thấy có sự kiện nào khiến chúng tôi cho rằng báo cáo tài chính không phản ánh trung thực và hợp lý, trên các khía cạnh trọng yếu, phù hợp với [khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng]” (đối với báo cáo tài chính được lập theo khuôn khổ về trình bày hợp lý); hoặc

(b)            “Trên cơ sở công việc soát xét của chúng tôi, chúng tôi không thấy có sự kiện nào khiến chúng tôi cho rằng báo cáo tài chính không được lập, trên các khía cạnh trọng yếu, tuân thủ [khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng]” (đối với báo cáo tài chính được lập theo khuôn khổ về tuân thủ).

Kết luận không phải là kết luận chấp nhận toàn phần

  1. Kiểm toán viên phải đưa ra kết luận không phải là kết luận chấp nhận toàn phần trong báo cáo soát xét về tổng thể báo cáo tài chính khi:

(a)            Dựa trên các thủ tục đã thực hiện và các bằng chứng thu thập được, kiểm toán viên kết luận là báo cáo tài chính vẫn còn sai sót trọng yếu; hoặc

(b)            Kiểm toán viên không thể thu thập đầy đủ bằng chứng thích hợp liên quan đến một hay một số khoản mục trọng yếu đối với tổng thể báo cáo tài chính.

  1. Khi kiểm toán viên đưa ra kết luận không phải là kết luận chấp nhận toàn phần về báo cáo tài chính, kiểm toán viên phải:

(a)            Sử dụng tiêu đề “Kết luận ngoại trừ”, “Kết luận trái ngược” hoặc “Từ chối đưa ra kết luận”, tùy trường hợp, trong đoạn “Kết luận của Kiểm toán viên” của báo cáo soát xét;

(b)            Trình bày một đoạn mô tả về vấn đề dẫn đến việc kiểm toán viên đưa ra kết luận không phải là kết luận chấp nhận toàn phần với tiêu đề thích hợp (như: “Cơ sở của kết luận ngoại trừ”, “Cơ sở của kết luận trái ngược”, hoặc “Cơ sở của việc từ chối đưa ra kết luận” tùy trường hợp), kiểm toán viên phải đặt đoạn này ngay trước đoạn “Kết luận của Kiểm toán viên” trong báo cáo soát xét (được tham chiếu là cơ sở cho đoạn kết luận).

Báo cáo tài chính có sai sót trọng yếu

  1. Nếu kiểm toán viên xác định rằng báo cáo tài chính có sai sót trọng yếu, kiểm toán viên phải trình bày:

(a)            “Kết luận ngoại trừ”, khi kiểm toán viên kết luận là các sai sót có ảnh hưởng trọng yếu nhưng không lan tỏa đối với báo cáo tài chính; hoặc

(b)            “Kết luận trái ngược”, khi kiểm toán viên kết luận là các sai sót có ảnh hưởng trọng yếu và lan tỏa đối với báo cáo tài chính.

  1. Khi đưa ra “Kết luận ngoại trừ” do có sai sót trọng yếu trong báo cáo tài chính, kiểm toán viên phải sử dụng một trong những cụm từ sau một cách thích hợp, trừ khi pháp luật và các quy định có liên quan có yêu cầu khác:

(a)            “Trên cơ sở công việc soát xét của chúng tôi, ngoại trừ ảnh hưởng của các vấn đề được mô tả tại đoạn “Cơ sở của kết luận ngoại trừ”, chúng tôi không thấy có sự kiện nào khiến chúng tôi cho rằng báo cáo tài chính không phản ánh trung thực và hợp lý, trên các khía cạnh trọng yếu,… phù hợp với [khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng]” (đối với báo cáo tài chính được lập theo khuôn khổ về trình bày hợp lý); hoặc

(b)            “Trên cơ sở công việc soát xét của chúng tôi, ngoại trừ ảnh hưởng của các vấn đề được mô tả tại đoạn “Cơ sở của kết luận ngoại trừ”, chúng tôi không thấy có sự kiện nào khiến chúng tôi cho rằng báo cáo tài chính không được lập, trên các khía cạnh trọng yếu, tuân thủ [khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng]” (đối với báo cáo tài chính được lập theo khuôn khổ về tuân thủ).

  1. Khi đưa ra “Kết luận trái ngược” về báo cáo tài chính, kiểm toán viên phải sử dụng một trong những cụm từ sau một cách thích hợp, trừ khi pháp luật và các quy định có liên quan có yêu cầu khác:

(a)            “Trên cơ sở công việc soát xét của chúng tôi, do tầm quan trọng của những vấn đề được mô tả tại đoạn “Cơ sở của kết luận trái ngược”, báo cáo tài chính đã không phản ánh trung thực và hợp lý, trên các khía cạnh trọng yếu,… không phù hợp với [khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng]” (đối với báo cáo tài chính được lập theo khuôn khổ về trình bày hợp lý); hoặc

(b)            “Trên cơ sở công việc soát xét của chúng tôi, do tầm quan trọng của những vấn đề được mô tả tại đoạn “Cơ sở của kết luận trái ngược”, báo cáo tài chính không được lập, trên các khía cạnh trọng yếu, tuân thủ [khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính]” (đối với báo cáo tài chính được lập theo khuôn khổ về tuân thủ).

  1. Trong đoạn “Cơ sở của kết luận ngoại trừ” hoặc “Cơ sở của kết luận trái ngược”, liên quan đến những sai sót trọng yếu dẫn đến kết luận ngoại trừ hoặc kết luận trái ngược, kiểm toán viên phải:

(a)            Mô tả và định lượng ảnh hưởng về mặt tài chính của từng sai sót nếu sai sót trọng yếu đó liên quan đến các số liệu cụ thể của báo cáo tài chính (kể cả các thuyết minh mang tính định lượng), trừ khi điều đó là không thể thực hiện được, và khi không thực hiện được thì kiểm toán viên phải nêu rõ lý do;

(b)            Giải thích rõ các thuyết minh bị sai sót như thế nào nếu sai sót trọng yếu đó liên quan đến các thuyết minh bằng lời; hoặc

(c)            Mô tả tính chất của thông tin bị bỏ sót nếu sai sót trọng yếu liên quan đến việc không thuyết minh thông tin cần phải được thuyết minh. Kiểm toán viên phải trình bày thông tin bị bỏ sót nếu có thể trình bày được, trừ khi pháp luật và các quy định có liên quan không cho phép.

Không thể thu thập được đầy đủ bằng chứng thích hợp

  1. Nếu không thể hình thành kết luận về báo cáo tài chính do không thể thu thập được đầy đủ bằng chứng thích hợp, kiểm toán viên phải:

(a)            Đưa ra “Kết luận ngoại trừ” nếu kiểm toán viên kết luận rằng những ảnh hưởng có thể có của các sai sót không được phát hiện (nếu có) có thể là trọng yếu nhưng không lan tỏa đối với báo cáo tài chính; hoặc

(b)            “Từ chối đưa ra kết luận” nếu kiểm toán viên kết luận rằng những ảnh hưởng có thể có của các sai sót không được phát hiện (nếu có) có thể là trọng yếu và lan tỏa đối với báo cáo tài chính.

  1. Kiểm toán viên phải rút khỏi hợp đồng soát xét khi có các điều kiện sau (xem hướng dẫn tại đoạn A115 – A117 Chuẩn mực này):

(a)            Do Ban Giám đốc đơn vị áp đặt giới hạn phạm vi soát xét sau khi kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán chấp nhận hợp đồng soát xét, làm cho kiểm toán viên không thể thu thập được đầy đủ bằng chứng thích hợp để hình thành kết luận về báo cáo tài chính;

(b)           Kiểm toán viên xác định rằng những ảnh hưởng có thể có của các sai sót không được phát hiện là trọng yếu và lan tỏa đối với báo cáo tài chính;

(c)            Việc rút khỏi hợp đồng soát xét là có thể được theo pháp luật và các quy định có liên quan.

  1. Khi đưa ra “Kết luận ngoại trừ” về báo cáo tài chính do không thể thu thập được đầy đủ bằng chứng thích hợp, trừ khi pháp luật và các quy định có liên quan có yêu cầu khác, kiểm toán viên phải sử dụng một trong những cụm từ sau một cách thích hợp:

(a)            “Trên cơ sở công việc soát xét của chúng tôi, ngoại trừ ảnh hưởng có thể có của những vấn đề được mô tả tại đoạn “Cơ sở của kết luận ngoại trừ”, chúng tôi không thấy có sự kiện nào khiến chúng tôi cho rằng báo cáo tài chính không phản ánh trung thực và hợp lý, trên các khía cạnh trọng yếu,… phù hợp với [khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng]” (đối với báo cáo tài chính được lập theo khuôn khổ về trình bày hợp lý); hoặc

(b)           “Trên cơ sở công việc soát xét của chúng tôi, ngoại trừ ảnh hưởng có thể có của những vấn đề được mô tả tại đoạn “Cơ sở của kết luận ngoại trừ”, chúng tôi không nhận thấy sự kiện nào khiến chúng tôi cho rằng báo cáo tài chính không được lập, trên các khía cạnh trọng yếu, tuân thủ [khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng]” (đối với báo cáo tài chính được lập theo khuôn khổ về tuân thủ).

  1. Khi “Từ chối đưa ra kết luận” về báo cáo tài chính, kiểm toán viên phải nêu trong đoạn kết luận rằng:

(a)            Do tầm quan trọng của vấn đề mô tả tại đoạn “Cơ sở của việc từ chối đưa ra kết luận”, kiểm toán viên không thể thu thập được đầy đủ bằng chứng thích hợp để làm cơ sở đưa ra kết luận về báo cáo tài chính;

(b)            Theo đó, kiểm toán viên không đưa ra kết luận về báo cáo tài chính.

  1. Trong đoạn “Cơ sở của kết luận ngoại trừ” hoặc “Cơ sở của việc từ chối đưa ra kết luận”, liên quan đến việc không thể thu thập được đầy đủ bằng chứng thích hợp dẫn đến kết luận ngoại trừ hoặc từ chối đưa ra kết luận, kiểm toán viên phải đưa ra lý do cho việc không thể thu thập được đầy đủ bằng chứng thích hợp.