Đánh giá bằng chứng đã thu thập được

 

Đánh giá bằng chứng đã thu thập được (hướng dẫn đoạn 66 – 68 Chuẩn mực này)

A103. Trong một số trường hợp, kiểm toán viên có thể không thu thập được các bằng chứng như đã kỳ vọng thông qua việc thiết kế các thủ tục phỏng vấn, phân tích và các thủ tục đối với hoàn cảnh cụ thể ban đầu. Trường hợp đó, kiểm toán viên cho rằng bằng chứng thu thập được từ các thủ tục đã thực hiện là không đầy đủ và thích hợp để hình thành kết luận về báo cáo tài chính. Kiểm toán viên có thể:

  • Mở rộng phạm vi công việc thực hiện; hoặc
  • Thực hiện các thủ tục khác mà kiểm toán viên cho là cần thiết trong trường hợp đó.

Nếu không thể thực hiện được một trong hai cách trên, kiểm toán viên sẽ không thể thu thập được đầy đủ bằng chứng thích hợp để hình thành kết luận và theo yêu cầu của Chuẩn mực này, kiểm toán viên phải xác định ảnh hưởng của việc này đối với báo cáo soát xét, hoặc đối với khả năng hoàn thành hợp đồng soát xét. Ví dụ, một thành viên Ban Giám đốc không thể có mặt tại thời điểm soát xét để trả lời phỏng vấn của kiểm toán viên về các vấn đề trọng yếu. Tình huống này có thể xảy ra ngay cả khi kiểm toán viên chưa nhận thấy có vấn đề khiến kiểm toán viên cho rằng báo cáo tài chính có thể có sai sót trọng yếu, như đã quy định tại đoạn 57 Chuẩn mực này.

Giới hạn phạm vi soát xét

A104. Việc không thể thực hiện một thủ tục cụ thể không hình thành nên giới hạn phạm vi soát xét nếu kiểm toán viên có thể thu thập được đầy đủ bằng chứng thích hợp thông qua các thủ tục khác.

A105. Việc Ban Giám đốc giới hạn phạm vi soát xét có thể có các ảnh hưởng khác đến cuộc soát xét, như ảnh hưởng tới việc xem xét của kiểm toán viên đối với các nội dung trên báo cáo tài chính có thể có sai sót trọng yếu và việc tiếp tục hợp đồng soát xét.

Hình thành kết luận của kiểm toán viên về báo cáo tài chính

Mô tả khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng (hướng dẫn đoạn 69(a) Chuẩn mực này)

A106. Đoạn mô tả khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng là rất quan trọng vì nó giúp người sử dụng hiểu được khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính đã được áp dụng. Nếu báo cáo tài chính cho mục đích đặc biệt thì báo cáo tài chính đó phải được lập theo khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính cho mục đích đặc biệt mà có thể chỉ dành cho bên thuê dịch vụ. Đoạn mô tả khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính cho mục đích đặc biệt là quan trọng khi báo cáo tài chính đó có thể không phù hợp với các đối tượng sử dụng khác ngoài đối tượng sử dụng đã được xác định.

A107. Nếu đoạn mô tả khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng có những từ ngữ không cụ thể hoặc có hạn chế (ví dụ, “báo cáo tài chính tuân thủ phần lớn các chuẩn mực kế toán Việt Nam”) thì đoạn mô tả đó không được coi là mô tả đầy đủ về khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính vì có thể làm cho người sử dụng báo cáo tài chính hiểu sai.

Thuyết minh về ảnh hưởng của các giao dịch và sự kiện trọng yếu đối với các thông tin được trình bày trong báo cáo tài chính (hướng dẫn đoạn 69(b)(vi) và đoạn 71 Chuẩn mực này)

A108. Theo Chuẩn mực này, kiểm toán viên phải đánh giá liệu báo cáo tài chính có cung cấp đầy đủ các thuyết minh giúp người sử dụng báo cáo tài chính hiểu được ảnh hưởng của các giao dịch và sự kiện trọng yếu đối với tình hình tài chính, kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình lưu chuyển tiền tệ của đơn vị hay không.

A109. Trường hợp báo cáo tài chính được lập theo khuôn khổ về trình bày hợp lý, Ban Giám đốc đơn vị có thể phải trình bày các thuyết minh bổ sung trong báo cáo tài chính ngoài những quy định cụ thể của khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng trong những hoàn cảnh đặc biệt nhằm đạt được mục tiêu trình bày hợp lý báo cáo tài chính.

Xem xét khi báo cáo tài chính được lập theo khuôn khổ về tuân thủ

A110. Trong một số ít trường hợp, nếu kiểm toán viên cho rằng báo cáo tài chính được lập theo khuôn khổ về tuân thủ gây hiểu sai thì tại thời điểm chấp nhận hợp đồng soát xét, kiểm toán viên phải xác định xem liệu khuôn khổ này có thể chấp nhận được hay không.

Các khía cạnh định tính trong công việc kế toán của đơn vị được soát xét (hướng dẫn đoạn 70(b) Chuẩn mực này)

A111. Khi xem xét các khía cạnh định tính trong công việc kế toán của đơn vị được soát xét, kiểm toán viên có thể nhận biết được sự thiên lệch trong các xét đoán của Ban Giám đốc đơn vị. Kiểm toán viên có thể kết luận rằng tác động cộng hưởng của sự thiên lệch cùng với ảnh hưởng của các sai sót chưa được điều chỉnh làm cho báo cáo tài chính xét trên phương diện tổng thể có sai sót trọng yếu. Các dấu hiệu cho thấy sự thiên lệch có thể ảnh hưởng đến đánh giá của kiểm toán viên về việc liệu báo cáo tài chính xét trên phương diện tổng thể có sai sót trọng yếu hay không, bao gồm:

  • Việc điều chỉnh có chọn lọc các sai sót của Ban Giám đốc đơn vị trong quá trình soát xét. Ví dụ, điều chỉnh các sai sót làm tăng lợi nhuận mà không điều chỉnh các sai sót làm giảm lợi nhuận;
  • Sự thiên lệch của Ban Giám đốc đơn vị khi đưa ra các ước tính kế toán.

A112. Các dấu hiệu cho thấy có thể có sự thiên lệch của Ban Giám đốc đơn vị không tạo thành sai sót khi đưa ra kết luận về tính hợp lý của từng ước tính kế toán. Tuy nhiên, các dấu hiệu đó có thể ảnh hưởng đến đánh giá của kiểm toán viên về việc liệu báo cáo tài chính xét trên phương diện tổng thể có còn sai sót trọng yếu hay không.

Hình thành kết luận của kiểm toán viên (hướng dẫn đoạn 74 Chuẩn mực này)

bookkeeping-vinasc1

Mô tả về thông tin trình bày trong báo cáo tài chính

A113. Trường hợp báo cáo tài chính được lập theo khuôn khổ về trình bày hợp lý, kiểm toán viên cần nêu rõ trong kết luận rằng kiểm toán viên không nhận thấy có sự kiện nào khiến kiểm toán viên cho rằng báo cáo tài chính không phản ánh trung thực và hợp lý, trên các khía cạnh trọng yếu, theo khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng, ví dụ, các khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính cho mục đích chung yêu cầu báo cáo tài chính phải trình bày về tình hình tài chính của đơn vị tại ngày kết thúc kỳ kế toán, kết quả hoạt động kinh doanh và tình hình lưu chuyển tiền tệ cho kỳ kế toán kết thúc cùng ngày.

“Phản ánh trung thực và hợp lý, trên các khía cạnh trọng yếu”

A114. Pháp luật và các quy định có liên quan đến việc soát xét báo cáo tài chính ở Việt Nam quy định việc sử dụng cụm từ “phản ánh trung thực và hợp lý, trên các khía cạnh trọng yếu”. Nếu pháp luật và các quy định có liên quan có sử dụng các thuật ngữ khác thì cũng không ảnh hưởng đến yêu cầu của Chuẩn mực này đối với kiểm toán viên trong việc đánh giá sự trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính được lập theo khuôn khổ về trình bày hợp lý.

Không thể hình thành kết luận do Ban Giám đốc đơn vị áp đặt giới hạn phạm vi soát xét sau khi chấp nhận hợp đồng soát xét (hướng dẫn đoạn 15 và đoạn 82 Chuẩn mực này)

A115. Khả năng kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán rút khỏi hợp đồng soát xét có thể phụ thuộc vào mức độ hoàn thành hợp đồng dịch vụ, tại thời điểm mà Ban Giám đốc đơn vị áp đặt giới hạn phạm vi soát xét. Nếu đã hoàn thành cơ bản hợp đồng soát xét thì kiểm toán viên có thể quyết định hoàn thành hợp đồng soát xét và kết luận “Từ chối đưa ra kết luận” và giải thích về giới hạn phạm vi soát xét trong đoạn “Cơ sở của việc từ chối đưa ra kết luận”.

A116. Trong một số trường hợp nhất định, việc rút khỏi hợp đồng soát xét là không thể thực hiện được nếu pháp luật và các quy định có liên quan yêu cầu kiểm toán viên phải tiếp tục hợp đồng soát xét. Ví dụ, trường hợp kiểm toán viên được chỉ định soát xét báo cáo tài chính của các đơn vị trong lĩnh vực công. Theo pháp luật và các quy định có liên quan, kiểm toán viên có thể được chỉ định soát xét báo cáo tài chính cho một giai đoạn nhất định hoặc được bổ nhiệm soát xét trong một thời gian nhất định và không được phép rút khỏi hợp đồng soát xét trước khi hoàn thành soát xét báo cáo tài chính đã được chỉ định hoặc trước khi kết thúc thời gian bổ nhiệm. Kiểm toán viên có thể xem xét việc trình bày đoạn “Vấn đề khác” trong báo cáo soát xét để giải thích tại sao kiểm toán viên không thể rút khỏi hợp đồng soát xét khi cần thiết.

Trao đổi với cơ quan chức năng hoặc chủ sở hữu của đơn vị được soát xét

A117. Khi kiểm toán viên kết luận rằng việc rút khỏi hợp đồng soát xét là cần thiết do bị giới hạn phạm vi soát xét, pháp luật và các quy định có liên quan có thể yêu cầu kiểm toán viên phải trao đổi các vấn đề liên quan đến việc rút khỏi hợp đồng soát xét với cơ quan chức năng hoặc chủ sở hữu của đơn vị được soát xét.