Các vấn đề cần xem xét thêm trong quá trình chấp nhận hợp đồng kiểm toán

03. ISA 210 v\:* {behavior:url(#default#VML);} o\:* {behavior:url(#default#VML);} w\:* {behavior:url(#default#VML);} .shape {behavior:url(#default#VML);}

Các vấn đề cần xem xét thêm trong quá trình chấp nhận hợp đồng kiểm toán

Chuẩn mực lập và trình bày báo cáo tài chính được pháp luật và các quy định bổ sung

  1. Nếu chuẩn mực lập và trình bày báo cáo tài chính do tổ chức soạn thảo chuẩn mực có thẩm quyền hoặc được thừa nhận ban hành, được pháp luật và quy định khác bổ sung thì kiểm toán viên phải xác định liệu có mâu thuẫn giữa chuẩn mực lập và trình bày báo cáo tài chính này với các quy định bổ sung hay không. Nếu có mâu thuẫn, kiểm toán viên phải thảo luận với Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán về nội dung các quy định bổ sung này và phải thống nhất liệu:

(a)            Các quy định bổ sung có thể được thực hiện bằng cách bổ sung các thuyết minh trong báo cáo tài chính hay không; hoặc

(b)           Các diễn giải trong báo cáo tài chính về khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng có thể được sửa đổi cho phù hợp hay không.

Nếu không thể thực hiện được giải pháp nào trên đây, kiểm toán viên phải xác định có cần phải đưa ra ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần theo Chuẩn mực kiểm toán quốc tế số 705[3] hay không (Tham chiếu: Đoạn A34).

Khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính theo yêu cầu của pháp luật và các quy định – Các vấn đề khác ảnh hưởng đến việc chấp nhận hợp đồng kiểm toán

  1. Nếu kiểm toán viên đã xác định được rằng khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính theo yêu cầu của pháp luật và các quy định là không thể chấp nhận được nhưng vì đó là yêu cầu bắt buộc của pháp luật và các quy định, kiểm toán viên chỉ được chấp nhận hợp đồng kiểm toán khi thỏa mãn các điều kiện sau (Tham chiếu: Đoạn A35):

(a)            Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán đồng ý trình bày bổ sung các thuyết minh trong báo cáo tài chính nhằm tránh cho việc báo cáo tài chính bị hiểu sai;

(b)           Các điều khoản của hợp đồng kiểm toán thể hiện rõ:

(i)              Báo cáo kiểm toán sẽ trình bày thêm đoạn “Nhấn mạnh vấn đề” theo Chuẩn mực kiểm toán quốc tế số 706[4] để thông báo cho người sử dụng báo cáo tài chính về các thuyết minh bổ sung;

(ii)            Ý kiến kiểm toán về báo cáo tài chính sẽ không bao gồm cụm từ “trình bày hợp lý, trên các khía cạnh trọng yếu” hoặc “phản ánh trung thực và hợp lý”, phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng, trừ khi pháp luật và các quy định yêu cầu kiểm toán viên phải sử dụng cụm từ đó.

  1. Nếu các điều kiện quy định tại đoạn 19 không được thỏa mãn trong khi pháp luật và các quy định vẫn yêu cầu kiểm toán viên phải thực hiện cuộc kiểm toán, kiểm toán viên phải:

(a)            Đánh giá ảnh hưởng của nội dung bị hiểu sai trong báo cáo tài chính đến ý kiến kiểm toán;

(b)           Trình bày vấn đề này một cách thích hợp trong điều khoản của hợp đồng kiểm toán.

Báo cáo kiểm toán theo yêu cầu của pháp luật và các quy định

vinasc-city-73

  1. Pháp luật và các quy định của một quốc gia nào đó có thể đặt ra các yêu cầu về cách trình bày hoặc ngôn từ cụ thể trong báo cáo kiểm toán khác so với quy định của các chuẩn mực kiểm toán quốc tế. Trường hợp này, kiểm toán viên phải đánh giá:

(a)            Liệu người sử dụng báo cáo kiểm toán có thể hiểu sai mức độ đảm bảo của ý kiến kiểm toán đối với báo cáo tài chính hay không;

(b)           Liệu các giải thích bổ sung trong báo cáo kiểm toán có thể làm cho người sử dụng báo cáo kiểm toán hiểu đúng hay không.[5]

Nếu thấy rằng việc giải thích bổ sung trong báo cáo kiểm toán cũng không thể giúp người sử dụng báo cáo kiểm toán hiểu đúng, kiểm toán viên không được chấp nhận cuộc kiểm toán đó, trừ khi pháp luật và các quy định yêu cầu. Một cuộc kiểm toán được thực hiện theo yêu cầu của pháp luật và các quy định như vậy sẽ không đảm bảo tuân thủ các chuẩn mực kiểm toán quốc tế. Vì vậy, kiểm toán viên không được đề cập trong báo cáo kiểm toán là cuộc kiểm toán đã được thực hiện theo các chuẩn mực kiểm toán quốc tế[6] (Tham chiếu: Đoạn A36-A37).