Các quy định về đạo đức nghề nghiệp liên quan đến kiểm toán báo cáo tài chính

02. ISA 200

Các quy định về đạo đức nghề nghiệp liên quan đến kiểm toán báo cáo tài chính (Tham chiếu: Đoạn 14)

  • Kiểm toán viên phải tuân thủ các quy định về đạo đức nghề nghiệp có liên quan, bao gồm cả tính độc lập, liên quan đến kiểm toán báo cáo tài chính. Các quy định về đạo đức nghề nghiệp thường bao gồm Phần A và Phần B của Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kế toán, kiểm toán của Liên đoàn kế toán quốc tế (sau đây gọi là “Chuẩn mực đạo đức của IFAC”) liên quan đến kiểm toán báo cáo tài chính cùng với các quy định của quốc gia có phạm vi hẹp hơn.
  • Phần A của Chuẩn mực đạo đức của IFAC quy định các nguyên tắc cơ bản về đạo đức nghề nghiệp đối với kiểm toán viên khi tiến hành cuộc kiểm toán báo cáo tài chính, đồng thời hướng dẫn áp dụng các nguyên tắc đó. Các nguyên tắc cơ bản mà kiểm toán viên phải tuân thủ theo yêu cầu của Chuẩn mực đạo đức của IFAC là:
  • Chính trực;
  • Khách quan;
  • Năng lực chuyên môn và tính thận trọng;
  • Tính bảo mật;
  • Tư cách nghề nghiệp;

Phần B của Chuẩn mực đạo đức của IFAC đưa ra các ví dụ minh họa về việc áp dụng các quy định chung trong các tình huống cụ thể.

  • Trong trường hợp một cuộc kiểm toán có liên quan đến lợi ích công chúng, Chuẩn mực đạo đức của IFAC yêu cầu kiểm toán viên phải đảm bảo tính độc lập đối với đơn vị được kiểm toán. Chuẩn mực đạo đức của IFAC quy định tính độc lập bao gồm cả độc lập về tư tưởng và độc lập về hình thức. Sự độc lập của kiểm toán viên đối với đơn vị được kiểm toán đảm bảo cho kiểm toán viên trong việc đưa ra ý kiến kiểm toán mà không chịu tác động của bất kỳ yếu tố nào. Sự độc lập giúp kiểm toán viên gia tăng tính chính trực, khách quan và duy trì thái độ hoài nghi nghề nghiệp.
  • Chuẩn mực Kiểm soát chất lượng quốc tế (ISQC) 1[9]) và các quy định của quốc gia có yêu cầu khắt khe tương đương,[10] quy định trách nhiệm của doanh nghiệp kiểm toán trong việc xây dựng và duy trì hệ thống kiểm soát chất lượng đối với các cuộc kiểm toán. ISQC 1 quy định các trách nhiệm của doanh nghiệp kiểm toán trong việc xây dựng các chính sách và thủ tục để đạt được sự đảm bảo hợp lý rằng doanh nghiệp kiểm toán và nhân sự của doanh nghiệp kiểm toán đã tuân thủ các quy định về đạo đức nghề nghiệp có liên quan, bao gồm cả tính độc lập.[11] Chuẩn mực kiểm toán quốc tế số 220 quy định trách nhiệm của chủ phần hùn kiểm toán đối với các quy định về đạo đức nghề nghiệp có liên quan. Các yêu cầu này bao gồm duy trì cảnh giác, thông qua việc quan sát và phỏng vấn (nếu cần) để thu thập bằng chứng về việc thành viên nhóm kiểm toán không tuân thủ các quy định về đạo đức nghề nghiệp có liên quan; xác định cách xử lý phù hợp nếu chủ phần hùn kiểm toán phát hiện thành viên nhóm kiểm toán không tuân thủ các quy định về đạo đức nghề nghiệp có liên quan; và hình thành kết luận về sự tuân thủ quy định về tính độc lập áp dụng đối với cuộc kiểm toán.[12] Chuẩn mực kiểm toán quốc tế số 220 cho phép nhóm kiểm toán dựa vào hệ thống kiểm soát chất lượng của doanh nghiệp kiểm toán để thực hiện các trách nhiệm về thủ tục kiểm soát chất lượng áp dụng với từng cuộc kiểm toán, trừ khi doanh nghiệp kiểm toán hoặc các bên khác có hướng dẫn khác.

Thái độ hoài nghi nghề nghiệp (Tham chiếu: Đoạn 15)

  • Hoài nghi nghề nghiệp là thái độ cảnh giác đối với các vấn đề như:
  • Các bằng chứng kiểm toán mâu thuẫn với nhau;
  • Thông tin dẫn đến việc nghi ngờ về độ tin cậy của các tài liệu và kết quả phỏng vấn đã được sử dụng làm bằng chứng kiểm toán;
  • Các sự kiện có thể là dấu hiệu của gian lận;
  • Các tình huống đặt ra yêu cầu phải thực hiện thủ tục kiểm toán bổ sung ngoài những thủ tục mà chuẩn mực kiểm toán quốc tế yêu cầu.
    • Kiểm toán viên cần duy trì thái độ hoài nghi nghề nghiệp trong suốt cuộc kiểm toán để giảm các rủi ro:
  • Bỏ qua các sự kiện và tình huống bất thường;
  • Vội vàng rút ra kết luận chỉ từ việc quan sát;
  • Sử dụng các giả định không phù hợp khi xác định nội dung, lịch trình, phạm vi của thủ tục kiểm toán và đánh giá kết quả các thủ tục đó.
    • Kiểm toán viên phải có thái độ hoài nghi nghề nghiệp để đánh giá một cách nghiêm túc đối với bằng chứng kiểm toán. Điều này bao gồm sự nghi ngờ đối với các bằng chứng kiểm toán mâu thuẫn, trái ngược và đánh giá mức độ tin cậy của các tài liệu, các câu trả lời phỏng vấn cũng như các thông tin khác do Ban Giám đốc và Ban quản trị đơn vị được kiểm toán cung cấp. Thái độ hoài nghi nghề nghiệp cũng bao gồm sự xem xét về tính đầy đủ và thích hợp của các bằng chứng kiểm toán thu thập được trong từng hoàn cảnh cụ thể, ví dụ trong trường hợp tồn tại rủi ro có gian lận nhưng lại chỉ có một tài liệu làm bằng chứng kiểm toán duy nhất cho một khoản mục trọng yếu trên báo cáo tài chính, mà tài liệu này dễ bị gian lận.
    • Kiểm toán viên có thể chấp nhận tính xác thực của các ghi chép và tài liệu, trừ khi kiểm toán viên có lý do để không chấp nhận. Tuy nhiên, kiểm toán viên phải xem xét độ tin cậy của thông tin được sử dụng làm bằng chứng kiểm toán.[13] Trong trường hợp nghi ngờ về độ tin cậy của thông tin hoặc có dấu hiệu gian lận (ví dụ, trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên nhận thấy các sự kiện khiến kiểm toán viên tin rằng một tài liệu nào đó không trung thực hoặc một nội dung nào đó trong tài liệu bị giả mạo), các chuẩn mực kiểm toán quốc tế yêu cầu kiểm toán viên phải kiểm tra kỹ hơn và xác định cần sửa đổi hoặc bổ sung các thủ tục kiểm toán nào làm rõ cho nghi ngờ đó.[14]
    • Kiểm toán viên có thể sử dụng kinh nghiệm và hiểu biết của mình trong quá khứ về sự trung thực và tính chính trực của Ban Giám đốc và Ban quản trị đơn vị được kiểm toán. Tuy nhiên, việc tin tưởng vào sự trung thực và tính chính trực của Ban Giám đốc và Ban quản trị đơn vị được kiểm toán không làm giảm sự cần thiết phải duy trì thái độ hoài nghi nghề nghiệp hoặc không cho phép kiểm toán viên thỏa mãn với các bằng chứng kiểm toán chưa đủ thuyết phục để đạt được sự đảm bảo hợp lý.

Xét đoán chuyên môn (Tham chiếu: Đoạn 16)

vinasc-city-23

  • Xét đoán chuyên môn là đòi hỏi thiết yếu khi tiến hành kiểm toán. Kiểm toán viên sẽ không thể thực hiện được các quy định về đạo đức nghề nghiệp, các chuẩn mực kiểm toán quốc tế, và đưa ra các quyết định cần thiết trong suốt cuộc kiểm toán nếu không sử dụng các kiến thức và kinh nghiệm một cách phù hợp với thực tế và hoàn cảnh cụ thể. Xét đoán chuyên môn rất cần thiết trong việc đưa ra các quyết định về:
  • Mức trọng yếu và rủi ro kiểm toán;
  • Nội dung, lịch trình và phạm vi các thủ tục kiểm toán được sử dụng để đáp ứng các yêu cầu của chuẩn mực kiểm toán quốc tế và thu thập bằng chứng kiểm toán;
  • Đánh giá tính đầy đủ và thích hợp của các bằng chứng kiểm toán đã thu thập và sự cần thiết phải thu thập thêm các bằng chứng kiểm toán để đạt được mục tiêu của các chuẩn mực kiểm toán quốc tế và mục tiêu tổng thể của kiểm toán viên;
  • Đánh giá các xét đoán của Ban Giám đốc của đơn vị được kiểm toán trong việc áp dụng khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính;
  • Đưa ra kết luận dựa trên các bằng chứng kiểm toán đã thu thập, ví dụ, khi đánh giá tính hợp lý của các ước tính kế toán mà Ban Giám đốc sử dụng khi lập báo cáo tài chính.
    • Đặc điểm nổi bật về tính xét đoán chuyên môn mà kiểm toán viên phải có là việc kiểm toán viên sử dụng những kiến thức được đào tạo, sự hiểu biết và kinh nghiệm để phát triển kỹ năng cần thiết nhằm đưa ra những xét đoán hợp lý.
    • Việc thực hiện xét đoán chuyên môn trong bất kỳ trường hợp nào đều dựa trên hiểu biết của kiểm toán viên về thực tế và hoàn cảnh cụ thể. Đối với những vấn đề phức tạp hoặc bất đồng xảy ra trong quá trình kiểm toán, để đưa ra xét đoán chuyên môn đầy đủ và hợp lý, kiểm toán viên có thể xin ý kiến tư từ trong nội bộ nhóm kiểm toán hoặc giữa nhóm kiểm toán với các bên khác ở cấp độ phù hợp bên trong hay bên ngoài doanh nghiệp kiểm toán, như quy định tại Chuẩn mực kiểm toán quốc tế số 220.[15]
    • Xét đoán chuyên môn có thể được đánh giá dựa vào việc xem xét sự vận dụng các nguyên tắc về kế toán và kiểm toán một cách thành thạo, sự phù hợp và nhất quán với thực tế và tình huống cụ thể mà kiểm toán viên biết được cho đến ngày lập báo cáo kiểm toán.
    • Xét đoán chuyên môn cần được thực hiện trong suốt cuộc kiểm toán và thể hiện một cách thích hợp trong hồ sơ kiểm toán. Kiểm toán viên phải lập đầy đủ tài liệu, hồ sơ kiểm toán để một kiểm toán viên có kinh nghiệm, không có mối liên hệ nào trước đó với cuộc kiểm toán, có thể hiểu được những xét đoán chuyên môn quan trọng mà kiểm toán viên đã thực hiện để đưa ra kết luận về những vấn đề trọng yếu phát sinh trong suốt cuộc kiểm toán.[16] Kiểm toán viên không được sử dụng xét đoán chuyên môn để biện hộ cho những quyết định không chứng minh được bằng thực tế, bằng những tình huống cụ thể của cuộc kiểm toán hoặc bằng các bằng chứng kiểm toán đầy đủ và thích hợp.