TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC BÊN LIÊN QUAN (TT)

TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC BÊN LIÊN QUAN (TT)

vinasc-city-59

Trách nhiệm của Trung tâm Thông tin Tín dụng Quốc gia Việt Nam

 

1. Duy trì vận hành Trang điện tử an toàn và ổn định, đảm bảo Trang điện tử và cơ sở dữ liệu
quản lý vay, trả nợ nước ngoài không bị truy cập trái phép.
2. Sử dụng thông tin từ Trang điện tử theo quy định về hoạt động thông tin tín dụng của Ngân
hàng Nhà nước.
3. Phối hợp với Vụ Quản lý Ngoại hối thực hiện các nội dung quy định tại Khoản 4 Điều 45
Thông tư này.
Trách nhiệm của Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố nơi Bên đi
vay đặt trụ sở chính
1. Thực hiện các chức năng, nhiệm vụ theo thẩm quyền theo quy định tại Thông tư này.
2. Chịu trách nhiệm hướng dẫn, theo dõi, nhắc nhở, đôn đốc các Bên đi vay thực hiện khai
báo thông tin, báo cáo theo quy định tại Thông tư này.
3. Khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu về vay, trả nợ nước ngoài trong phạm vi thẩm quyền phục
vụ công tác quản lý vay, trả nợ nước ngoài trên địa bàn phù hợp với chức năng, nhiệm vụ.
4. Kiểm tra, thanh tra, và xử lý vi phạm hành chính theo thẩm quyền đối với các trường hợp
vi phạm hành chính trong quá trình thực hiện các quy định tại Thông tư này.
Điều 48. Trách nhiệm của Cơ quan Thanh tra, giám sát Ngân hàng
Kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm hành chính theo thẩm quyền đối với các trường hợp vi
phạm hành chính trong quá trình thực hiện các quy định tại Thông tư này.

Hiệu lực thi hành
1. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/4/2016 trừ quy định tại Khoản 3 Điều này.
2. Kể từ ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành, các văn bản sau đây hết hiệu lực thi hành:
a) Thông tư số 09/2004/TT-NHNN ngày 21/12/2004 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn
việc vay và trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp;
b) Thông tư số 25/2014/TT-NHNN ngày 15/9/2014 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn thủ
tục đăng ký, đăng ký thay đổi Khoản vay nước ngoài của doanh nghiệp không được Chính
phủ bảo lãnh.
3. Chế độ báo cáo thông qua Trang điện tử đối với các Bên đi vay lựa chọn hình thức trực
tuyến được áp dụng bắt đầu từ kỳ báo cáo Quý II/2016. Trước thời hạn này, các Bên đi vay
nói trên thực hiện chế độ báo cáo bằng văn bản theo quy định tại Điều 40 Thông tư này.