Kế toán theo giá gốc và thực trạng kế toán theo giá gốc tại Việt Nam

dich-vu-ke-toan-tai-tphcmKế toán theo giá gốc và Thực trạng kế toán theo cơ sở giá gốc ở Việt Nam hiện nay

Luật Kế toán (2003): “Giá trị của tài sản được tính theo giá gốc, bao gồm chi phí mua, bốc xếp, vận chuyển, lắp ráp, chế biến và các chi phí liên quan trực tiếp khác đến việc đưa tài sản vào trạng thái sẵn sàng sử dụng”. Như vậy, cơ sở giá gốc đề cập gắn liền với việc ghi nhận giá trị tài sản được mua, nhìn chung còn đơn giản, thiếu tính hệ thống nên có thể ảnh hưởng đến sự hữu hiệu của Luật do không thể thi hành hoặc thi hành không đầy đủ.

– Chuẩn mực kế toán: Cơ sở giá gốc được áp dụng chính thức trong việc ghi nhận giá trị ban đầu của các đối tượng tài sản như hàng tồn kho, tài sản cố định, bất động sản, các khoản đầu tư…Nhưng các phương pháp tính giá không được quy định đầy đủ, minh bạch làm giảm tính chất ổn định của môi trường kế toán. Trong đoạn 28 của VAS 4- Tài sản cố định chỉ đề cập ngắn gọn về việc phải tuân thủ các quy định của nhà nước về đánh giá lại giá trị tài sản mà không đưa ra các nguyên tắc, phương pháp đánh giá lại tài sản thường rất phức tạp. Thiếu tính chuẩn mực quan trọng làm ảnh hưởng đến việc thực hiện đo lường kế toán trên cơ sở giá gốc đối với nhiều đối tượng như: các công cụ tài chính, trợ cấp Chính phủ, tổn thất tài sản.

Chính sách cơ chế, phương pháp đo lường kế toán liên quan: Việc tồn tại chính sách hai giá khiến cho việc ghi nhận giá gốc theo biểu giá chính thức không đảm bảo yêu cầu khách quan, hệ quả là các nội dung về chi phí, doanh thu và lãi lỗ có thể thiếu độ tin cậy, ngoài ra, còn gây nhiều hậu quả nghiêm trọng khác. Điển hình như khung giá đất hiện nay quá thấp so với giá thị trường, dẫn đến sự thất thoát rất lớn nguồn tài sản đất đai của nhà nước khi bán ra bên ngoài, theo GS. TS Đặng Hùng Võ, các nghiên cứu cho thấy ngân sách nhà nước (NSNN) bị lãng phí, thất thoát gần 150 tỉ USD trong khoảng thời gian từ 1994- 2014 do tồn tại chính sách hai giá trong đất đai ở đô thị.

Theo quy định hiện hành, hai cơ chế định giá doanh nghiệp nhà nước (DNNN) được phép áp dụng là: “Thành lập Hội đồng định giá, và thuê công ty tư vấn định giá độc lập” nhưng do mâu thuẫn lợi ích giữa các bên khi tự làm hoặc chi phí quá cao khi thuê tư vấn nên kết quả đạt được hoặc không kịp thời hoặc không phù hợp với điều kiện thực tế. Về phương pháp định giá, Bộ Tài chính chỉ cho phép áp dụng phương pháp so sánh và phương pháp chi phí. Điều này hạn chế việc tìm kiếm và áp dụng những phương pháp định giá phù hợp hơn.

Vấn đề chuyển giá và chống chuyển giá: Kế toán giá gốc cũng chịu thử thách rất lớn trong việc cung cấp thông tin trung thực, đáng tin cậy do xuất hiện các hoạt động chuyển giá mà các tập đoàn kinh doanh đa quốc gia tìm cách áp dụng để thu được lợi nhuận tối đa về cho tập đoàn qua việc tăng thu nhập, nếu thuế thu nhập hoặc được chia lợi nhuận theo tỉ lệ góp vốn cao trong các liên doanh, trên cơ sở định giá thấp hơn giá thị trường các mặt hàng xuất khẩu từ nước chủ nhà và định giá cao hơn giá thị trường các mặt hàng nhập khẩu vào nước chủ nhà. Điều này đồng nghĩ với việc nâng giá (gốc) đầu vào, giảm giá bán đầu ra của các yếu tố sản xuất trong các giao dịch nội bộ giữa các thành viên của tập đoàn được đặt tại nhiều quốc gia có biểu thuế khác nhau sao cho có lợi nhất. Kĩ thuật chuyển giá ngày càng phức tạp và mở rộng, đòi hỏi phải có cơ chế chống chuyển giá hiệu quả nhằm tránh thất thu thuế, đưa giá thành và giá bán trở lại tương xứng với thực chất hao phí đã bỏ ra.

Các vấn đề khác: Ngòai những nội dung trên, còn nhiều vấn đề khác liên quan đến việc áp dụng kế toán giá gốc để cung cấp thông tin hữu ích cho người sử dụng như quan điểm về đánh giá tổn thất tài sản (impairment), chính sách tỉ giá hối đoái, trình độ quản lí kinh doanh nội bộ, hoạt động đào tạo nhân sự kế toán-kiểm toán còn phải được giải quyết về lí luận lẫn thực hành nghề nghiệp.

Kết luận

Cơ sở giá gốc được xem là nền của đo lường kế toán trong nhiều năm qua, và kế toán giá gốc đã thực hiện rất tốt chức năng cung cấp thông tin hữu ích và đáng tin cậy cho người sử dụng tại các quốc gia, tuy nhiên trong xu hướng phát triển và hội nhập toàn cầu hiện nay, cơ sở giá gốc đã bộc lộ nhiều hạn chế. Và mặc dù chưa thể phủ nhận vai trò của giá gốc trong kế toán nhưng rất cần xem xét lại và bổ sung bởi những cơ sở khác một cách phù hợp hơn.
Ở Việt Nam, việc ban hành hệ thống chuẩn mực kế toán, các chế độ kế toán mới và các hướng dẫn tương đối phù hợp với quan điểm của Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế trong thời gian qua đã chứng minh quyết tâm hội nhập của mình trong lĩnh vực kế toán nhằm phục việc đổi mới cơ chế quản lí nền kinh tế, cung cấp thông tin tài chính kinh tế minh bạch cho các chủ thể tham gia vào các hoạt động của nền kinh tế trong giai đoạn mới. Tuy nhiên, khoảng cách về nhận thức, kinh nghiệm, kỹ thuật vẫn còn rất lớn giữa hệ thống kế toán Việt Nam so với yêu cầu của quốc tế, đặc biệt là liên quan đến khái niệm về giá, việc tính giá, ghi nhận và trình bày giá trị các đối tượng kế toán. Do đó, các vấn đề về kế toán trên cơ sở giá gốc tại Việt Nam cần phải được nhìn nhận, đánh giá một cách toàn diện nhằm có thể đưa ra những giải pháp phù hợp và hiệu quả để đảm bảo tính hữu ích, đáng tin cậy cho thông tin kế toán được cung cấp.
Bài viết chưa đi sâu vào việc đưa ra các giải pháp cụ thể cho từng vấn đề, và khó tránh khỏi các thiếu sót hạn chế, rất mong nhận được sự góp ý, chia sẻ để lần nghiên cứu sau được thực hiện tốt hơn.