Dịch vụ kế toán Vinasc giới thiệu một số nội dung hỏi đáp về thuế giá trị gia tăng

dich-vu-ke-toan5Công ty Dịch vụ kế toán và tư vấn thuế Vinasc giới thiệu :Tình huống thuế GTGT_Số 12.2015

Câu 1:

Công ty của em trong tháng 5/2015 có xuất hàng sang Trung Quốc, theo quy định hiện hành là không cần xuất hóa đơn nhưng bộ phận viết hóa đơn đã xuất và chuyển liên 2 cho khách hàng. Bây giờ khi khai báo thuế tháng em có kê khai trong tờ khai thuế GTGT và có phải báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn đó không?

Hội tư vấn thuế trả lời như sau:

Căn cứ Thông tư số 119/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính có hiệu lực từ ngày 1/9/2014 quy định:

Tại khoản 7 Điều 3 sửa đổi Điều kiện khấu trừ, hoàn thuế đầu vào của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu của Thông tư số 219/2013/TT-BTC:

“ Hóa đơn thương mại. Ngày xác định doanh thu xuất khẩu để tính thuế là ngày xác nhận hoàn tất thủ tục hải quan trên tờ khai hải quan.”

Tại khoản 1 Điều 5 sửa đổi bổ sung:

“Doanh nghiệp A là doanh nghiệp khai thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ vừa có hoạt động bán hàng trong nước vừa có hoạt động xuất khẩu ra nước ngoài. Doanh nghiệp A sử dụng hóa đơn GTGT cho hoạt động bán hàng trong nước và không cần lập hóa đơn GTGT cho hoạt động xuất khẩu ra nước ngoài.”

Theo quy định trên, trong tháng 5/2015 công ty có xuất khẩu hàng ra nước ngoài thì không cần lập hóa đơn GTGT cho hoạt động xuất khẩu. Tuy nhiên công ty đã xuất hóa đơn và chuyển cho khách hàng vì vậy trong Tờ khai thuế GTGT mẫu só 01/GTGT công ty phải kê khai bình thường vào chỉ tiêu 29 ( Hàng hóa, dịch vụ bán ra chịu thuế suất 0% ).Và trong Báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn công ty phải kê khai tên, ký hiệu mẫu hóa đơn, ký hiệu hóa đơn…của hóa đơn đã xuất gửi cơ quan thuế như quy định.

Câu 2:

Xin hỏi, để được khấu trừ thuế GTGT đầu vào thì người nộp thuế đã đăng ký tài khoản dùng để thanh toán cho nhà cung cấp với cơ quan thuế, vậy Người nộp thuế có phải đăng ký tài khoản của các nhà cung cấp không, quy định cụ thể tại văn bản nào

Hội tư vấn trả lời như sau:

Căn cứ Điều 9 Chương I Thông tư số 156/2013/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn Luật Quản lý thuế quy định về Thay đổi, bổ sung thông tin đăng ký thuế:

“Đối với người nộp thuế đã được cấp đăng ký thuế nhưng chưa thông báo thông tin về các tài khoản của người nộp thuế đã mở tại các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng với cơ quan thuế …thì phải thông báo bổ sung, …thời hạn chậm nhất ngày 31/12/2013.”

Căn cứ khoản 3 Điều 15 Thông tư số 219/2013/TT-BTC quy định về Điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào:

“Chứng từ thanh toán qua ngân hàng được hiểu là có chứng từ chứng minh việc chuyển tiền từ tài khoản bên mua sang tài khoản của bên bán ( tài khoản của bên mua và tài khoản của bên bán phải là tài khoản đã đăng ký hoặc thông báo với cơ quan thuế ) mở tại các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán theo các hình thức thanh toán phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành…”

Theo quy định trên, Từng đơn vị là Người nộp thuế phải thông báo thông tin về các tài khoản của đơn vị mình đã mở cho cơ quan thuế. Chính sách thuế hiện hành không có quy định người nộp thuế phải thông báo hoặc đăng ký với cơ quan thuế số tài khoản của đối tác là các nhà cung cấp.

Câu 3:

Trong năm 2014, Công ty tôi có giao dịch HĐ mua bán với một công ty TNHH A chuyên thực hiện việc nhập khẩu mặt hàng “hoa phong lan cắt cành”- sản phẩm trồng trọt, xuất xứ tại Thái Lan về để kinh doanh trong nước.

Công ty tôi và Công ty A đều kê khai thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ: đối với mặt hàng này có mức thuế suất thuế GTGT là 5% trong năm 2014. Sang đầu năm 2015, Thuế suất mà cơ quan Hải quan áp cho mặt hàng “hoa phong lan cắt cành” như sau:

– Thuế nhập khẩu: Từ ngày 01/01/2015 thuế suất là 0% (các năm trước đó là 5%) là do được áp thuế nhập khẩu ưu đãi theo TT 165/2014/TT-BTC ngày 14/11/2014 về việc ban hành biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định Thương mại hàng hóa Asean giai đoạn 2015-2018.

– Thuế GTGT hàng nhập khẩu: không áp thuế (các năm trước 2014 cũng không áp thuế).

Xin tư vấn các nội dung sau:

1/ Khi đọc kỹ Thông tư 219/2013/TT-BTC ngày 31/12/2013 của BTC; nghị định số 209/2013/NĐ-CP; Thông tư số 26/2015/TT-BTC ngày 27/02/2015 hướng dẫn về thuế GTGT và quản lý thuế GTGT…

Chúng tôi hiểu rằng: Khi Công ty kinh doanh (tiêu thụ) mặt hàng “hoa phong lan cắt cành” trong nước theo khoản 5 Điều 5 thông tư 219/2013/TT-BTC cho sản phẩm trồng trọt thì:

1.1- Đơn vị được áp dụng loại “đối tượng không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT” khi tiêu thụ mặt hàng hoa nêu trên cho “doanh nghiệp, hợp tác xã ở khâu kinh doanh thương mại”: tức là dòng thuế GTGT trên hóa đơn được gạch bỏ.

1.2- Còn khi bán sản phẩm trồng trọt…như trên cho các đối tượng khác “cho các đối tượng khác như hộ, cá nhân kinh doanh và các tổ chức, cá nhân khác ngoài đối tượng của Khoản 5 điều 5 nêu trên” thì phải kê khai, tính nộp thuế GTGT theo mức thuế suất 5% hướng dẫn tại khoản 5 Điều 10 Thông tư này.

1.3- Tuy nhiên, trường hợp bán sản phẩm trồng trọt…như trên cho các đơn vị tổ chức Hành chính sự nghiệp (Văn phòng UBND; Trường học …) thì đơn vị chưa rõ sẽ phải kê khai, tính nộp thuế GTGT theo cách nào trong hai cách trên?

Vậy: chúng tôi đọc, hiểu văn bản như trên có đúng không? Mục 1.3 sẽ được tính theo cách nào?

Hội tư vấn thuế trả lời như sau:

Căn cứ khoản 5 Điều 5 Chương I Thông tư số 219/2013/TT-BTC quy định Các trường hợp không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT:

“5. Doanh nghiệp, hợp tác xã nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ bán sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi…cho doanh nghiệp, hợp tác xã ở khâu kinh doanh thương mại không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT. Trên hóa đơn GTGT, ghi dòng giá bán là không có thuế GTGT, dòng thuế suất và thuế GTGT không ghi, gạch bỏ.

Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ bán sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi… cho các đối tượng khác như hộ, cá nhân kinh doanh và các tổ chức, cá nhân khác thì phải kê khai, tính nộp thuế GTGT theo mức thuế suất 5% …”

Theo quy định trên, trường hợp công ty bán sản phẩm trồng trọt cho các đơn vị tổ chức hành chính sự nghiệp ( Văn phòng UBND, Trường học…) đó là các đối tượng khác , vì vậy phải kê khai, tính nộp thuế GTGT theo thuế suất 5%.

2/ Biện pháp xử lý cho các hóa đơn GTGT đã xuất năm 2014 đến nay như thế nào?

Trường hợp 1.1 câu trên là đúng thì với những hóa đơn GTGT từ năm 2014 đến nay, đơn vị đã lập (đã tính thuế suất 5%), đã kê khai và đã nộp thuế GTGT đầu ra từ năm 2014 đến nay, Công ty A có được điều chỉnh hay không và thủ tục điều chỉnh các hóa đơn này như thế nào? Các doanh nghiệp, HTX đã kê khai khấu trừ đầu vào các hóa đơn trên sẽ phải làm các thủ tục điều chỉnh gì đồng thời?

Kính đề nghị Hội tư vấn thuế xem xét và giải đáp vướng mắc của đơn vị để các đơn vị thực hiện theo đúng chính sách thuế của Nhà nước và hoàn thành nghĩa vụ với Ngân sách Nhà nước.

Xin trân trọng cảm ơn!

Trả lời:

Cũng tại khoản 5 Điều 5 TT số 219/2013/TT-BTC quy định:

“Trường hợp sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi…bán cho doanh nghiệp, hợp tác xã đã lập hóa đơn, kê khai tính thuế GTGT thì người bán và người mua phải điều chỉnh hóa đơn để không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT theo hướng dẫn tại khoản này.”

Căn cứ khoản 3 Điều 20 Chương III Thông tư số 39/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính quy định:

“Điều 20. Xử lý đối với hóa đơn đã lập

3. Trường hợp hóa đơn đã lập và giao cho người mua, đã giao hàng hóa, cung ứng dịch vụ, người bán và người mua đã kê khai thuế, sau đó phát hiện sai sót thì người bán và người mua phải lập biên bản hoặc có thỏa thuận bằng văn bản ghi rõ sai sót, đồng thời người bán lập hóa đơn điều chỉnh sai sót. Hóa đơn ghi rõ điều chỉnh ( tăng, giảm ) số lượng hàng hóa, giá bán, thuế suất thuế GTGT…tiền thuế GTGT cho hóa đơn số…,ký hiệu…Căn cứ vào hóa đơn điều chỉnh, người bán và người mua kê khai điều chỉnh doanh số mua, bán, thuế đầu ra, đầu vào. Hóa đơn điều chỉnh không được ghi số âm.”

Theo quy định trên, trường hợp công ty trong năm 2014 đến nay bán sản phẩm trồng trọt cho doanh nghiệp khác đã lập hóa đơn kê khai tính thuế GTGT thì công ty và người mua phải điều chỉnh hóa đơn theo hướng dẫn tại khoản 3 Điều 20 nêu trên để không phải kê khai, tính và nộp thuế GTGT.

Người mua căn cứ biên bản và hóa đơn điều chỉnh để kê khai giảm số thuế GTGT đã khấu trừ. Số thuế GTGT công ty đã kê khai nộp được xác định là số nộp thừa, được trừ vào số thuế GTGT phải nộp kỳ tiếp theo.