Báo cáo kế toán quản trị và việc sử dụng báo cáo quản trị trong phân tích tài chính

dich-vu-ke-toan-tai-tphcmBáo cáo kế toán quản trị và sử dung báo cáo kế toán quản trị trong việc phân tích tài chính

Báo cáo kế toán quản trị (KTQT) là những báo cáo phục vụ cho một nhóm nhà quản lý của doanh nghiệp, nó là cơ sở quan trọng cho việc ra quyết định trong hoạt động hàng ngày cũng như xây dựng chiến lược hoạt động. Thông qua các báo cáo KTQT sẽ giúp NQL có cơ sở để hoạch định, kiểm soát, tổ chức thực hiện để đạt được các mục tiêu đã đề ra. Xây dựng hệ thống các báo cáo phải đảm bảo cung cấp thông tin hữu ích nhất cho nhà quản lý, muốn vậy báo cáo phải được thiết kế đơn giản, dễ hiểu và phải phù hợp với nhu cầu thông tin của nhà quản lý doanh nghiệp. Nội dung báo cáo KTQT đa dạng từ lợi nhuận biên, chi phí biên tới báo cáo hàng tồn kho, báo cáo phải thu phải trả.., qua những báo cáo này nhà quản lý tập nắm được tình hình hiện tại của doanh nghiệp như thế nào so với kế hoạch. Quyết định điều chỉnh để khắc phục hoạt động yếu kém cũng như phát huy hoạt động hiệu quả nhằm đạt được mục tiêu mà kế hoạch đề ra. Do đó đối với Nhà quản lý đây là những báo cáo quan trọng phản ánh thực chất doanh nghiệp đang hoạt động như thế nào.

Trong phân tích tài chính, một số báo cáo được sử dụng như:

Báo cáo doanh thu: do Kế toán bán hàng lập theo tháng, quý, nửa năm và năm theo biễu mẫu quy định của doanh nghiệp. Những nội dung chính trong báo cáo bao gồm doanh thu trong kỳ, doanh thu kỳ trước, tăng giảm so với kỳ trước, mức độ thực hiện so với kế hoạch đề ra. Tùy thuộc vào lĩnh vực hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mà thiết lập báo cáo về doanh thu, ví dụ đối với lĩnh vực xây lắp thì báo cáo doanh thu có thể phản ánh chi tiết về doanh thu về xây lắp, doanh thu về kinh doanh bất động sản, doanh thu về bán hàng và cung cấp hàng hóa.., thông qua báo cáo doanh thu nhà quản lý sẽ đánh giá cụ thể, rõ nét về tác động của từng lĩnh vực đến việc phân tích tài chính như tỷ suất sinh lời..

Báo cáo chi tiết lợi nhuận: Nội dung chính bao gồm lợi nhuận trong kỳ, lợi nhuận kỳ trước. Báo cáo lợi nhuận cũng được chia thành các báo cáo chi tiết cho từng lĩnh vực hoạt động khác nhau. Qua báo cáo này khi nhà quản lý tiến hành phân tích về chỉ tiêu tài chính liên quan đến lợi nhuận sẽ có cái nhìn cụ thể, chi tiết ảnh hưởng của từng lợi nhuận đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

Báo cáo hàng tồn kho: Do kế toán kho thực hiện cùng với thủ kho theo, quý, nửa năm và năm tùy thuộc vào yêu cầu của nhà quản lý. Nội dung chính của báo cáo gồm số lượng và giá thành tồn kho đầu kỳ, số lượng và giá thành nhập kho trong kỳ, số lượng và giá thành xuất kho trong kỳ và cuối cùng là số lượng và giá thành tồn kho cuối kỳ. Hiệu quả quản lý hàng tồn kho thường thể theo số vòng quay hay thời gian trung bình một vòng quay. Số vòng quay lớn thể hiện doanh nghiệp hiệu quả trong quản lý nhưng có thể nó cũng thể hiện doanh nghiêp có quá ít hàng trong kho dẫn đến trường hợp mất cơ hội bán thêm hàng. Ngược lại nếu vòng quay nhỏ thể hiện doanh nghiêp gặp khó khăn trong vấn dề tiêu thụ sản phẩm và có thể dẫn tới phải giảm giá bán hoạch hàng hết giá trị sử dụng.

Báo cáo phải thu khách hàng: Nội dung chính bao gồm tổng phải thu của khách hàng, tổng phải thu dưới 01 năm và phần trăm tổng phải thu dưới 01 năm so với tổng phải thu, tổng phải thu trên 01 năm và phần trăm so với tổng phải thu và tỷ lệ phải thu kỳ này so với kỳ trước. Đánh giá chất lượng các khoản phải thu theo thời gian. Những khoản phải thu dưới 01 năm là an toàn có nghĩa là doanh nghiệp có khả năng thu hồi cao. Nhưng khoản phải thu trên 01 năm cần được đánh giá lại khả năng thu hồi qua nhiều yếu tố. Một chi tiêu khác cũng cần lưu ý là tỷ lệ tăng trưởng các khoản phải thu so với kỳ trước, khi tỷ lệ này lớn phải xem xét nguyên nhân do doanh nghiệp nới lỏng chính sách tín dụng giúp tăng doanh thu hay do doanh nghiệp gặp kho khăn khi thu hồi nợ.

Báo cáo các khoản phải trả: Nội dung chính bao gồm tổng phải trả cho khách hàng, tổng các khoản phải trả dưới 01 năm và tỷ lệ phần trăm so với tổng phải trả, tổng phải trả trên 01 năm và tỷ lệ phần trăm so với tổng các khoản phải trả, tổng các khoản phải trả kỳ trước, tỷ lệ thay đổi trong tổng các khoản phải trả kỳ này so với kỳ trước. Tổng phải trả tăng cao thể hiện doanh nghiệp đang vay nợ nhiều hơn để tài trợ cho hoạt động của mình. Nhà cung cấp, ngân hàng hay đối tác có thể căn cứ vào số nợ của doanh nghiệp để ra quyết định như thời hạn thanh toán dài hay ngắn, tổng dư nợ cho vay và lãi suất. Do vậy

Nhà quản lý phải kiểm soát tốt công nợ phải trả.

Ngoài ra còn rất nhiều báo cáo nội bộ trong doanh nghiệp như: báo cáo phân loại nợ phải thu, nợ phải trả theo thời gian để có thể đánh giá về khả năng thanh toán, báo cáo phân loại taì sản không dùng cho hoạt động kinh doanh để đánh giá hiệu quả của đơn vị…